Thông tin truy cập
 
Số lượt truy cập : 3003089
Khách trực tuyến : 96
Thành viên trực tuyến : 0
 
Liên kết Website
Skip Navigation Links.
23/07/2008 - 08:11
Quốc hội Việt Nam từ khóa I đến khóa XI


1. Khóa I (1946 - 1960):

- Bầu cử ngày 06/01/1946.

- Tổng số đại biểu: 403.

- Gồm 333 đại biểu được dân bầu, 70 đại biểu không qua bầu cử, trong đó có 20 đại biểu thuộc Việt Nam Cách mạng đồng minh hội và 50 đại biểu thuộc Việt Nam Quốc dân đảng.

Thành phần xã hội trong Quốc hội khóa I như sau:

+ Trí thức: 61%.

+ Công kỹ nghệ gia: 0,6%.

+ Buôn bán: 0,5%.

+ Thợ thuyền: 0,6%.

+ Nông dân: 22%.

Về tuổi tác:

+ Đại biểu từ 18 - 25 tuổi: 0,7%.

+ Đại biểu từ 26 - 40 tuổi: 70%.

+ Đại biểu từ 41 - 50 tuổi: 18%.

+ Đại biểu từ 51 - 70 tuổi: 0,5%.

Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I đã thể hiện ý chí, quyết tâm và sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng chính quyền của nhân dân, đồng thời phản ánh sự tin tưởng sâu sắc của Đảng đối với quần chúng cách mạng.

2. Khóa II (1960 - 1964):

- Bầu cử ngày 08/5/1960.

- Tổng số đại biểu: 453, trong đó có 91 đại biểu miền Nam lưu nhiệm.

Cơ cấu thành phần của Quốc hội như sau:

+ Công nhân: 13,8%.

+ Nông dân: 12,9%.

+ Trí thức: 28,4%.

+ Đảng viên: 82,3%.

+ Cán bộ chính trị: 35,2%.

+ Dân tộc thiểu số: 15,4%.

+ Quân đội: 4,5%.

+ Phụ nữ: 13,5%.

+ Thanh niên: 8,8%.

+ Tôn giáo: 3,5%.

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa II thắng lợi đã có ý nghĩa và tác dụng lớn đối với việc kiện thoàn bộ máy Nhà nước dân chủ nhân dân, đối với việc đoàn kết toàn dân và nâng cao ý thức làm chủ đất nước của nhân dân ta. Đó là những điều kiện quyết định cho sự phát triển của chế độ, cho thắng lợi của sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

3. Khóa III (1964 - 1971):

- Bầu cử ngày 26/4/1964.

- Tổng số đại biểu: 453, trong đó có 87 đại biểu lưu nhiệm.

Cơ cấu thành phần của Quốc hội như sau:

+ Công nhân: 12,4%.

+ Nông dân: 24,5%.

+ Trí thức: 26,8%.

+ Đảng viên: 80,6%.

+ Cán bộ chính trị: 19,2%.

+ Dân tộc thiểu số: 16,6%.

+ Quân đội: 5,0%.

+ Phụ nữ: 16,7%.

+ Thanh niên: 15,6%.

+ Tôn giáo: 3,2%.

Kết quả cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa III đã tỏ rõ sự nhất trí về chính trị và tinh thần, sự tín nhiệm của nhân dân đối với Mặt trận Tổ quốc Việt nam đối với sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

4. Khóa IV (1971 - 1975):

- Bầu cử ngày 11/4/1971.

- Tổng số đại biểu: 420.

Cơ cấu thành phần của Quốc hội như sau:

+ Công nhân: 22,3%.

+ Nông dân: 21,4%.

+ Trí thức: 17,4%.

+ Đảng viên: 75,4%.

+ Cán bộ chính trị: 24,5%.

+ Dân tộc thiểu số: 17,3%.

+ Quân đội: 6,4%.

+ Phụ nữ: 29,7%.

+ Thanh niên: 19,6%.

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa IV đã thành công rực rỡ, một lần nữa khẳng định sự nhất trí về chính trị và tinh thần xã hội của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, sự tín nhiệm của nhân dân đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, lòng tin đối với sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam và ý thức chính trị, ý thức làm chủ đất nước, làm chủ xã hội của nhân dân Việt Nam.

5. Khóa V (1975 - 1976):

- Bầu cử ngày 06/4/1975.

- Tổng số đại biểu: 424.

Cơ cấu thành phần của Quốc hội như sau:

+ Công nhân: 22%.

+ Nông dân: 21%.

+ Trí thức: 22%.

+ Đảng viên: 73%.

+ Cán bộ chính trị: 23%.

+ Dân tộc thiểu số: 16,7%.

+ Quân đội: 6,5%.

+ Phụ nữ: 32%.

+ Thanh niên: 33%.

Kết quả tốt đẹp của cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa V một lần nữa khẳng định sự nhất trí cao về chính trị trong xã hội, lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự tín nhiệm của toàn dân đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

6. Khóa VI (1976 - 1981):

- Bầu cử ngày 25/4/1976.

- Tổng số đại biểu: 492.

Cơ cấu thành phần của Quốc hội như sau:

+ Công nhân: 16,2%.

+ Nông dân: 20,3%.

+ Trí thức: 19,9%.

+ Đảng viên: 81,4%.

+ Cán bộ chính trị: 28,6%.

+ Dân tộc thiểu số: 13,6%.

+ Quân đội: 10,9%.

+ Phụ nữ: 26%.

+ Thanh niên: 11,7%.

Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa VI là thắng lợi của đường lối đấu tranh cách mạng của Đảng Lao động Việt Nam, đồng thời là một kết quả tốt đẹp của quá trình đấu tranh 45 năm qua của nhân dân Viẹt Nam vì độc lập và thống nhất dân tộc, vì dân chủ nhân dân và chủ nghĩa xã hội.

Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử chứng tỏ sức mạnh vô địch của nhân dân cả nước ta đoàn kết chặt chẽ trong Mặt trận Dân tộc thống nhất dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, dựa trên cơ sở liên minh công - nông. Với sức mạnh đó, ta đã giành được chiến thắng vĩ đại trong Cách mạng Tháng jTám, trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

Phát huy những thắng lợi đã giành được, nhân dân ta vững bước tiến lên xây dựng nước nhà thành một nước xã hội chủ nghĩa hùng cường, góp phần với nhân dân thế giới trong cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập, dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.

7. Khóa VII (1981 - 1987):

- Bầu cử ngày 26/4/1981.

- Tổng số đại biểu: 496.

Cơ cấu thành phần của Quốc hội như sau:

+ Công nhân: 20,16%.

+ Nông dân: 18,64%.

+ Trí thức: 22,17%.

+ Đảng viên: 84,12%.

+ Cán bộ chính trị: 24,39%.

+ Dân tộc thiểu số: 14,91%.

+ Quân đội: 9,87%.

+ Phụ nữ: 21,776%.

+ Thanh niên: 18,14%.

Thắng lợi của cuộc bầu cử Quốc hội khóa VII đã chứng minh rằng: đồng bào, chiến sĩ và cán bộ cả nước ta mặc dù đang gặp nhiều khó khăn về đời sống nhưng đã thực hiện quyền làm chủ tập thể qua lá phiếu của mình, theo đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

8. Khóa VIII (1987 - 1992):

- Bầu cử ngày 19/4/1987.

- Tổng số đại biểu: 496.

Cơ cấu thành phần của Quốc hội như sau:

+ Công nhân: 20%.

+ Nông dân: 21%.

+ Trí thức: 24%.

+ Đảng viên: 93%.

+ Cán bộ chính trị: 20,2%.

+ Dân tộc thiểu số: 14%.

+ Quân đội: 9,9%.

+ Phụ nữ: 18%.

+ Thanh niên: 11,2%.

Thắng lợi của cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa VIII, đã khẳng định rằng, mặc rù có nhiều khó khăn về kinh tế và đời sống, nhưng với truyền thống yêu nước và chủ nghĩa xã hội, với sự giác ngộ về nghĩa vụ và quyền làm chủ của công dân, nhân dân ta đã biểu thị lòng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tích cực tham gia vào việc lựa chọn đại biểu xứng đáng của mình để bầu vào cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, góp phần tăng cường và củng cố Nhà nước chuyên chính vô sản.

Thành phần của 496 đại biểu được bầu vào Quốc hội khóa VIII đã thể hiện được khối đại đoàn kết toàn dân trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, dựa trên cơ sở liên mih công - nông vững chắc.

9. Khóa IX (1992 - 1997):

- Bầu cử ngày 19/7/1992.

- Tổng số đại biểu: 395.

Cơ cấu thành phần của Quốc hội như sau:

+ Nông nghiệp: 14,68%.

+ Công nghiệp: 4,8%.

+ Luật: 3,8%.

+ Giáo dục: 6,1%.

+ Văn học nghệ thuật:5,08%.

+ Đảng viên: 91,6%.

+ Dân tộc thiểu số: 16,79%.

+ Quản lý Nhà nước:31,3%.

+ Quân đội: 6,78%.

+ Phụ nữ: 18,84%.

+ Cán bộ chính trị công tác Đảng: 10,94%.

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc họi khóa IX đã được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật. Nhân dân thể hiện lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, có ý thức về quyền và nghĩa vụ của mình trong cuộc bầu cử, tích cực lựa chọn những đại biểu xứng đáng vào cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất.

Thành phần của 395 đại biểu được bầu vào Quốc hội khóa IX đã thể hiện khối đại đoàn kết toàn dân, tiêu biểu cho trí tuệ của nhân dân cả nước.

10. Khóa X (1997 - 2002):

- Bầu cử ngày 20/7/1997.

- Tổng số đại biểu: 450.

Cơ cấu thành phần của Quốc hội như sau:

+ Phụ nữ: 26,2%.

+ Dân tộc thiểu số: 17,33%.

+ Ngoài Đảng: 15%.

+ Tôn giáo: 0,17%.

+ Giáo dục: 4,88%.

+ Y tế: 4%.

+ Công nghiệp: 4,66%.

+ Đại biểu khóa IX tái cử: 27,34%.

+ Đại biểu trẻ (dưới 40 tuổi):18,6%.

+ Các lực lượng vũ trang nhân dân: 12,2%.

+ Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể: 14%.

+ Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản: 3,77%.

Tuổi bình quân của đại biểu Quốc hội khóa X là 49, trong đó đại biểu cao tuổi nhất là 86 tuổi và đại biểu trẻ tuổi nhất là 21.

Thành công của cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa X thể hiện tinh thần yêu nước và cách mạng, sự gắn bó và niềm tin của các tầng lớp nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ, thể hiện quyền và nghĩa vụ của công dân trong việc tham gia xây dựng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch và vững mạnh, để Nhà nước thực sự là của dân, do dân và vì dân; đáp ứng yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, tạo tiền đề vững chắc để đất nước bước vào thế kỷ XXI.

11. Khóa XI (2002 - 2007):

- Bầu cử ngày 19/5/2002.

- Tổng số đại biểu: 498.

Cơ cấu thành phần của Quốc hội như sau:

+ Nông dân: 06.

+ Công nhân: 02.

+ Đại biểu tự ứng cử: 02.

+ Đại biểu chuyên trách: 118.

+ Đảng viên: 447.

+ Ngoài Đảng: 51.

+ Dân tộc thiểu số: 86.

+ Phụ nữ: 136.

+ Tôn giáo: 07.

+ Trong lĩnh vực doanh nghiệp: 25.

+ Trong các lực lượng vũ trang: 55.

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XI đã đạt được thắng lợi to lớn và thành công tốt đẹp; bảo đảm dân chủ, đúng pháp luật, an toàn và tiết kiệm.

Thành công của cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XI đã thể hiện ý thức chính trị, trách nhiệm công dân, trình độ dân trí, sinh hoạt dân chủ trong xã hội có bước tiến bộ rõ rệt, khẳng định tinh thần yêu nước và cách mạng, niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và thắng lợi của sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

12. Khóa XII (2007 - 2011):

- Bầu cử ngày 20/5/2007.

- Tổng số đại biểu: 493.

Cơ cấu thành phần của Quốc hội như sau:

+ Đại biểu tự ứng cử: 01 (0,2%).

+ Đại biểu chuyên trách: 138 (27,99%).

+ Ngoài Đảng: 43 (8,72%).

+ Dân tộc thiểu số: 87 (17,6%).

+ Phụ nữ: 127 (25,8%).

+ Tôn giáo: 04 (0,8%).

13. Khóa XIII (2011 - 2016):

- Bầu cử ngày 22/5/2011.

- Tổng số đại biểu: 500.

Cơ cấu thành phần của Quốc hội như sau:

+ Đại biểu tự ứng cử: 04 (0,8%).

+ Đại biểu tái cử: 167 (33,4%).

+ Ngoài Đảng: 42 (8,4%).

+ Dân tộc thiểu số: 78 (15,6%).

+ Phụ nữ: 122 (24,4%).

+ Tôn giáo: 04 (0,8%).

  Gửi tin phản hồi Gửi Email In bài viết
Tin mới
Ý kiến thảo luận trực tuyến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều của đại biểu Quốc hội Bùi Thanh Tùng (TP Hải Phòng)
Quốc hội thảo luận về dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều
Ý kiến thảo luận trực tuyến về dự án Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP) của đại biểu Quốc hội Bùi Thanh Tùng (TP Hải Phòng)
Quốc hội thảo luận về dự thảo Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP)
Kế hoạch tiếp xúc cử tri phục vụ kỳ họp thứ 14 HĐND thành phố khóa XV
Quốc hội giám sát tối cao “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng chống xâm hại trẻ em”
Ý kiến thảo luận trực tuyến về dự án Luật Đầu tư (sửa đổi) của đại biểu Quốc hội Mai Hồng Hải (TP Hải Phòng)
Quốc hội thảo luận về dự án Luật Đầu tư (sửa đổi)
Quốc hội thảo luận về dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội
Ý kiến thảo luận trực tuyến về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp của đại biểu Quốc hội Mai Hồng Hải (TP Hải Phòng)
Quốc hội thảo luận về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp và dự án Luật Thanh niên (sửa đổi)
Quốc hội thảo luận về dự án Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án và dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp
Quốc hội thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xây dựng
Quốc hội thảo luận về dự thảo Nghị quyết thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Đà Nẵng
Ý kiến thảo luận trực tuyến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của đại biểu Quốc hội Lã Thanh Tân (TP Hải Phòng)