Thông tin truy cập
 
Số lượt truy cập : 3171089
Khách trực tuyến : 78
Thành viên trực tuyến : 0
 
Liên kết Website
Skip Navigation Links.
21/10/2020 - 17:12

Đa số ý kiến các vị đại biểu Quốc hội tán thành với việc không quy định điều kiện riêng về đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc Trung ương


Buổi sáng ngày 21/10/2020, Quốc hội nghe Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội Hoàng Thanh Tùng trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Cư trú (sửa đổi) và thảo luận tại hội trường về dự thảo Luật này, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân, sự điều hành phiên thảo luận của Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu.

Đa số đại biểu đánh giá cao Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Cư trú (sửa đổi) đã tiếp thu, chỉnh lý nhiều nội dung đại biểu góp ý từ kỳ họp thứ Chín đến nay và tập trung cho ý kiến về các quy định liên quan đến khái niệm thường trú, tạm trú, nơi cứ trú, nơi tạm trú; điều kiện đăng ký thường trú, tạm trú; xóa đăng ký thường trú; điều khoản thi hành của Luật.

Về giải thích từ ngữ liên quan đến cư trú, quy định tại Điều 2 Dự thảo luật, một số đại biểu đề nghị Ban soan thảo rà soát, bổ sung, chỉnh lý lại các khái niệm “cư trú”,“nơi cư trú”, “nơi cư trú ổn định”, “nơi cư trú không ổn định”, “nơi thường trú”, “nơi tạm trú”... để thống nhất với quy định của Bộ luật Dân sự và thống nhất cách hiểu với các luật khác; bổ sung giải thích cụm từ “Cơ quan quản lý cư trú”; làm rõ thêm khái niệm “chỗ ở hợp pháp”, vì “chỗ ở khác” cũng có thể là chỗ ở không hợp pháp.

Có đại biểu đề nghị Ban soạn thảo làm rõ khái niệm “nơi cư trú” của công dân. Tại Điều 11 của dự thảo Luật quy định: “Nơi cư trú của công dân bao gồm nơi thường trú, nơi tạm trú. Trường hợp không xác định được nơi cư trú của công dân quy định tại khoản 1 Điều này thì nơi cư trú của công dân là nơi ở hiện tại được xác định theo quy định tại khoản 1 Điều 19 của Luật này”. Quy định như vậy không đảm bảo tính rõ ràng, gây khó khăn cho quá trình áp dụng pháp luật. Nếu nơi cư trú bao gồm cả nơi thường trú, nơi tạm trú thì như vậy với một cá nhân vừa có nơi thường trú, vừa có nơi tạm trú như Dự thảo luật, thì nơi cư trú của công dân được xác định như thế nào. Đại biểu nhấn mạnh, trong quan hệ pháp luật dân sự, việc xác định nơi cư trú của công dân rất quan trọng, nhất là khi xác định quyền và nghĩa vụ trong việc tống đạt giấy tờ, xác định thẩm quyền của tòa án trong giải quyết tranh chấp...

Ngoài ra, quy định này không thống nhất với Bộ luật Dân sự, vì theo Bộ luật Dân sự, nơi cư trú của công dân là nơi công dân thường xuyên sinh sống. Trong khi đó dự thảo Luật Cư trú (sửa đổi) bỏ yếu tố thường xuyên sinh sống. Báo cáo tổng kết của Chính phủ có nêu việc xác định nơi thường xuyên sinh sống của công dân khó khăn, có địa phương xác định là 2 - 4 tuần nhưng có địa phương xác định 09 tháng đến 1 năm. Tuy nhiên, đại biểu cho rằng, đây không phải lý do để bỏ yếu tố nơi thường xuyên sinh sống. Vì vậy, cần có quy định phù hợp với Bộ Luật Dân sự và có hướng dẫn cụ thể nơi công dân sinh sống, nếu cần thiết có thể sửa luật để đảm bảo sự thống nhất với hệ thống pháp luật hiện hành.

Đại biểu khác cho rằng các quy định về nơi cư trú trong dự thảo Luật Cư trú (sửa đổi) không có cụm từ nào thể hiện yếu tố thường xuyên sinh sống, do vậy nếu đối chiếu riêng các quy định này trong dự thảo Luật với quy định của Bộ luật Dân sự có vẻ không thống nhất. Tuy nhiên, tại khoản 10, khoản 11 Điều 2 của dự thảo Luật Cư trú (sửa đổi) có giải thích khái niệm nơi thường trú, nơi tạm trú. Theo đó, nơi thường trú là nơi công dân sinh sống ổn định, lâu dài; nơi tạm trú là nơi công dân sinh sống trong một khoảng thời gian nhất định. Như vậy, yếu tố nơi sinh sống ổn định lâu dài, sinh sống trong khoản thời gian nhất định chính là thể hiện nội dung thường xuyên sinh sống trong quy định về nơi cư trú trong Bộ luật Dân sự. Do vậy, quy định về nơi cư trú, nơi thường trú, nơi tạm trú trong dự thảo Luật vẫn bảo đảm tính thống nhất với quy định về nơi cư trú của công dân với Bộ luật Dân sự.

Các đại biểu cũng góp ý về các quy định liên quan đến điều kiện đăng ký thường trú, điều kiện đăng ký tạm trú. Trong đó, nhiều ý kiến tán thành với việc không quy định điều kiện riêng về đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc trung ương; có ý kiến tán thành nhưng đề nghị cần có lộ trình cụ thể cho việc thực hiện tại Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh để bảo đảm phù hợp với khả năng đáp ứng của cơ sở hạ tầng và việc cung cấp các dịch vụ thiết yếu tại đô thị lớn.

Đối với điều kiện đăng ký tạm trú, nhiều đại biểu đề nghị không quy định điều kiện đăng ký tạm trú là phải được người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ đồng ý vì quy định này cản trở quyền đăng ký cư trú của công dân, ảnh hưởng tiêu cực đến công tác quản lý cư trú của các cơ quan nhà nước. Có đại biểu cho rằng khi đồng ý cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ thì chủ sở hữu chỗ ở hợp pháp đã đương nhiên chấp nhận cho người thuê, mượn, ở nhờ được sinh sống thường xuyên ở chỗ ở đó. Do đó, để phục vụ công tác quản lý cư trú của Nhà nước, công dân phải thực hiện việc đăng ký tạm trú và không có cơ sở nào để người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ được từ chối, cản trở người đang thực tế cư trú thực hiện việc đăng ký tạm trú với cơ quan nhà nước nhằm bảo đảm các quyền, lợi ích hợp pháp của mình và trật tự quản lý nhà nước về cư trú. Quy định như vậy cũng nhằm nâng cao trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có nhà ở cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ, góp phần hạn chế tình trạng cho người lao động ngoại tỉnh thuê, ở nhờ nhà tràn lan mà không đăng ký, khai báo dẫn đến khó kiểm soát như hiện nay.

Về điều khoản thi hành quy định tại Điều 38 của dự thảo Luật, đa số ý kiến đều cho rằng việc đổi mới phương thức quản lý cư trú của công dân từ cách thức thủ công, truyền thống bằng Sổ hộ khẩu, Sổ tạm trú và các tàng thư văn bản sang quản lý bằng số hóa, có kết nối thông suốt giữa các cơ quan đăng ký, quản lý cư trú trên cả nước thông qua Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu về cư trú và số định danh cá nhân là hoàn toàn phù hợp với xu thế tất yếu của việc hiện đại hóa phương thức quản lý nhà nước, ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng Chính phủ điện tử, chính quyền điện tử hiện nay. Việc chuyển đổi này vừa bảo đảm thuận lợi cho công dân trong việc thực hiện tốt hơn quyền tự do cư trú, vừa nâng cao hiệu quả của công tác quản lý nhà nước.

Một số đại biểu bày tỏ, đánh giá cao thời gian qua, Chính phủ, Bộ Công an cùng các cơ quan liên quan đã thể hiện quyết tâm rất cao, có nhiều văn bản chỉ đạo và hành động quyết liệt phấn đấu hoàn thành việc xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu về cư trú để có thể vận hành chính thức từ ngày 01/7/2021. Tuy nhiên, để bảo đảm thực hiện được mục tiêu này, nhiều đại biểu đề nghị Chính phủ tập trung chỉ đạo, bố trí đủ nguồn lực để tổ chức triển khai có hiệu quả, đúng tiến độ các công việc như trong kế hoạch đã đề ra. Bên cạnh đó, trong Luật cần có một số quy định chuyển tiếp phù hợp để bảo đảm sự thích ứng kịp thời của các cơ quan nhà nước có liên quan, tránh làm phát sinh thêm thủ tục, giấy tờ cho người dân.

Về vấn đề này, có đại biểu đề nghị quy định như Phương án 1 của dự thảo Luật. Cần có quy định chuyển tiếp, theo đó, kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, Sổ hộ khẩu, Sổ tạm trú đã được cấp vẫn được sử dụng và có giá trị như giấy tờ xác nhận về cư trú theo quy định của Luật này cho đến hết ngày 31/12/2022; thông tin về cư trú trong Cơ sở dữ liệu về cư trú là thông tin gốc, cơ quan đăng ký cư trú sẽ không cấp mới, cấp lại Sổ hộ khẩu, Sổ tạm trú. Theo Nghị quyết số 17 của Chính phủ về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử, trong giai đoạn 2021-2025, mới chỉ có 60% hệ thống thông tin của các bộ, ngành, địa phương có liên quan đến người dân, doanh nghiệpđược đưa vào vận hành, khai thác, kết nối liên thông; 90% hồ sơ công việc của các bộ, các tỉnh, 80% hồ sơ công việc tại cấp huyện và 60% hồ sơ công việc tại cấp xã được xử lý trên môi trường mạng. Quyết định số 20 của Thủ tướng Chính phủ về mã định danh điện tử của các cơ quan, tổ chức phục vụ kết nối, chia sẻ dữ liệu với các bộ, ngành, địa phương cũng xác định thời hạn đến tháng 9/2022 các bộ, ngành địa phương mới hoàn thành việc nâng cấp, chỉnh sửa, thông tin để đảm bảo tuân thủ các quy định về mã định danh điện tử phục vụ việc kết nối, chia sẻ dữ liệu. Như vậy, theo kế hoạch của Chính phủ thì đến hết 2025 vẫn chưa hoàn thành việc kết nối, chia sẻ thông tin, cơ sở dữ liệu với tất cả các bộ, ngành địa phương; chưa kể đến các địa phương vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế khó khăn. Bên cạnh đó, cả nước đang tập trung đối phó dịch bệnh và lũ lụt nên việc dành nguồn lực để đầu tư hạ tầng kết nối Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu quốc gia về cư trú và việc đầu tư hạ tầng kết nối giữa các bộ, ngành, cơ quan, tổ chức có liên quan trên toàn quốc từ Trung ương đến cấp xã, đảm bảo khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia trước ngày 01/7/2021 là rất khó khăn, khó đảm bảo tính khả thi. Việc bỏ sổ hộ khẩu, sổ tạm trú là vấn đề rất lớn, liên quan trực tiếp đến đời sống, sinh hoạt hàng ngày của người dân và hoạt động của các cơ quan, tổ chức liên quan, do vậy cần được xem xét, cân nhắc thận trọng, toàn diện, tránh làm khó cho người dân. Việc lựa chọn phương án 1 cũng không làm ảnh hưởng tới sự quyết tâm của Chính phủ, Bộ Công an trong việc hoàn thành Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân và không ảnh hưởng đến hiệu lực thi hành của luật...


Bộ trưởng Bộ Công an, Đại tướng Tô Lâm đã phát biểu, làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội nêu.

Phát biểu kết thúc phiên thảo luận, Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu tổng kết, trong phiên thảo luận có 21 vị đại biểu Quốc hội phát biểu ý kiến, 04 vị đại biểu Quốc hội tranh luận. Nhìn chung ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội nhất trí với nhiều nội dung của dự thảo Luật đã được chỉnh lý.

Về điều kiện đăng ký thường trú: đa số ý kiến các vị đại biểu Quốc hội tán thành với việc không quy định điều kiện riêng về đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc Trung ương như đã trình Quốc hội tại kỳ họp thứ Chín.

Về điều kiện đăng ký thường trú tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nói chung đối với người có chỗ ở hợp pháp là do đi thuê, mượn, ở nhờ, đa số ý kiến tán thành quy định một trong các điều kiện để đăng ký thường trú là phải bảo đảm diện tích nhà ở tối thiểu do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định nhưng không thấp hơn 8m2 sàn/người. Chính phủ cũng ủng hộ phương án này. Bên cạnh đó, có ý kiến đề nghị lựa chọn tiêu chí là có thời hạn tạm trú từ 1 năm trở lên tại địa bàn là điều kiện xem xét đối với các trường hợp đăng ký thường trú vào chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn, ở nhờ. Cũng có ý kiến đại biểu Quốc hội nêu vấn đề cần tích hợp cả phương án 1 và phương án 2 để làm điều kiện đăng ký thường trú.

Về điều kiện đăng ký tạm trú đối với người có nhà ở cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ: Qua thảo luận, đa số ý kiến tán thành quy định của dự thảo luật là không quy định điều kiện đăng ký tạm trú là phải được người có nhà ở cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ đồng ý.

Về thời hạn tạm trú: hiện đang có 2 loại ý kiến, loại ý kiến thứ nhất đề nghị tiếp tục quy định về thời hạn đăng ký tạm trú là 2 năm, để phân biệt với đăng ký thường trú, Chính phủ cũng đề nghị theo phương án này. Loại ý kiến thứ hai tán thành với quy định như trong dự thảo luật đã trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 9 là không quy định về thời hạn tạm trú để giảm bớt các thủ tục hành chính.

Về quy định chuyển tiếp trong dự án Luật: có 2 loại ý kiến. Nhiều ý kiến tán thành phương án 1, cho phép người dân được tiếp tục sử dụng sổ hộ khẩu, số tạm trú đã được cấp cho đến hết ngày 31/12/2022 để chứng minh thông tin về nơi cư trú thay thế cho giấy tờ xác nhận về cư trú theo quy định của luật này, khi thực hiện các thủ tục hành chính, giao dịch dân sự có yêu cầu thông tin về nơi cư trú. Có ý kiến thì tán thành phương án 2, đề nghị không cần có quy định chuyển tiếp sổ hộ khẩu, sổ tạm trú hết giá trị kể từ thời điểm luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2021. Đồng chí Bộ trưởng Bộ Công an đề nghị nên chuyển phương án 2 thành phương án 1. Đây là những vấn đề còn ý kiến khác nhau, Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ gửi phiếu xin ý kiến các vị đại biểu Quốc hội, trước khi trình Quốc hội xem xét, biểu quyết./.

                                                                                                           HN

  Gửi tin phản hồi Gửi Email In bài viết
Các tin đã đưa
Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc và Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng tiếp xúc cử tri báo cáo kết quả kỳ họp thứ Mười, Quốc hội khóa XIV tại huyện An Lão(23/11/2020 - 08:50)
Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng tiếp xúc cử tri báo cáo kết quả kỳ họp thứ Mười, Quốc hội khóa XIV tại các quận Ngô Quyền, Hải An và Kiến An(23/11/2020 - 08:26)
Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng tiếp xúc cử tri báo cáo kết quả kỳ họp thứ Mười, Quốc hội khóa XIV tại các huyện Tiên Lãng, Kiến Thụy và Vĩnh Bảo(23/11/2020 - 08:10)
Quốc hội thông qua Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi) và họp phiên bế mạc kỳ họp thứ Mười(18/11/2020 - 09:45)
Phát biểu của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân bế mạc Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIV(18/11/2020 - 09:08)
Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở(18/11/2020 - 08:24)
Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) và thảo luận về Dự án Luật Bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ(17/11/2020 - 10:25)
Quốc hội thông qua Nghị quyết về tổ chức chính quyền đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh và thảo luận về Dự án Luật Giao thông đường bộ (sửa đổi)(17/11/2020 - 10:13)
Quốc hội tiếp tục thông qua 04 Luật và 02 Nghị quyết(16/11/2020 - 09:16)
Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Phòng, chống ma túy (sửa đổi)(16/11/2020 - 08:12)
Quốc hội thông qua Nghị quyết về dự toán ngân sách nhà nước năm 2021(13/11/2020 - 10:12)
Quốc hội phê chuẩn bổ nhiệm một số thành viên Chính phủ và Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao(13/11/2020 - 09:54)
Chuyển trang    
Trang số:  1/112
Số bản ghi trên trang:
Tin mới
Thông báo Dự kiến nội dung Kỳ họp thứ 16 HĐND thành phố khóa XV (nhiệm kỳ 2016 - 2021)
Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh thành phố Hải Phòng 5 năm 2021 - 2025
Báo cáo Kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh năm 2020; Mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp năm 2021
Báo cáo tóm tắt về việc quy định mức kinh phí hỗ trợ hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân cấp xã trên địa bàn thành phố
Báo cáo Trả lời việc giải quyết các kiến nghị cụ thể của cử tri tại Kỳ họp thứ 14 HĐND thành phố khóa XV
Thông báo Điều chỉnh thời gian tổ chức Kỳ họp thứ 16 - Kỳ họp thường lệ cuối năm 2020 của HĐND thành phố
Kế hoạch Tiếp xúc cử tri phục vụ Kỳ họp thứ 16 HĐND thành phố khóa XV
Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc và Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng tiếp xúc cử tri báo cáo kết quả kỳ họp thứ Mười, Quốc hội khóa XIV tại huyện An Lão
Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng tiếp xúc cử tri báo cáo kết quả kỳ họp thứ Mười, Quốc hội khóa XIV tại các quận Ngô Quyền, Hải An và Kiến An
Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng tiếp xúc cử tri báo cáo kết quả kỳ họp thứ Mười, Quốc hội khóa XIV tại các huyện Tiên Lãng, Kiến Thụy và Vĩnh Bảo
Quốc hội thông qua Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi) và họp phiên bế mạc kỳ họp thứ Mười
Phát biểu của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân bế mạc Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIV
Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở
Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) và thảo luận về Dự án Luật Bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ
Quốc hội thông qua Nghị quyết về tổ chức chính quyền đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh và thảo luận về Dự án Luật Giao thông đường bộ (sửa đổi)