Thông tin truy cập
 
Số lượt truy cập : 3103291
Khách trực tuyến : 289
Thành viên trực tuyến : 0
 
Liên kết Website
Skip Navigation Links.
25/06/2020 - 14:21

NHỮNG QUY ĐỊNH MỚI VỀ TỒ CHỨC CHÍNH QUYỀN TẠI ĐỊA PHƯƠNG

(Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức

Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương)

Ngày 19/6/2015, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2016 đã cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 và các chủ trương, định hướng của Đảng về chính quyền địa phương, tạo hành lang pháp lý để các cơ quan nhà nước ở địa phương nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động, bảo đảm việc tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền các cấp trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân ở địa phương, góp phần vào công cuộc đổi mới của đất nước.

Tuy nhiên, sau gần 03 năm thực hiện, một số quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương đã bộc lộ những tồn tại, hạn chế, như: việc phân định thẩm quyền, phân quyền, phân cấp, ủy quyền chưa được quy định rõ, nhất là chủ thể thực hiện ủy quyền gây khó khăn trong việc áp dụng và hạn chế hoạt động của chính quyền địa phương các cấp; việc tăng số lượng Phó Chủ tịch HĐND cấp tỉnh, cấp huyện chưa phù hợp với tình hình tổ chức, hoạt động của chính quyền địa phương; quy định của Luật về cơ cấu tổ chức của chính quyền địa phương cấp huyện, cấp xã ở hải đảo như các đơn vị hành chính trong đất liền là chưa phù hp với đặc thù, đặc điểm khác biệt của các đơn vị hành chính ở hải đảo...

Bên cạnh đó, Nghị quyết số 18 NQ/TW của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, Kế hoạch số 07 KH/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 56/2017/QH14 ngày của Quốc hội về tiếp tục cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả đã nêu nhiều nhiệm vụ, giải pháp để tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hệ thống chính trị, trong đó có tổ chức bộ máy chính quyền địa phương. Chính vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức chính quyền địa phương là cần thiết nhằm kịp thời thể chế hóa và cụ thể hóa Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, đồng thời khắc phục những vướng mắc, bất cập trong quá trình thi hành luật thời gian qua.

Từ thực tiễn nêu trên, Chính phủ đã trình và tại kỳ họp thứ 8, ngày 22/11/2019, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2020. Sau đây là một số nội dung mới, đáng chú ý của Luật Tổ chức chính quyền địa phương.

Về mô hình tổ chức chính quyền địa phương: Luật đã quy định theo hướng linh hoạt, cụ thể như sau:

Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 4 để khẳng định nguyên tắc đã được Hiến pháp năm 2013 xác định, đó là: chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt.

Thứ hai, sửa đổi, bổ sung Điều 44 và Điều 58 về chính quyền địa phương theo hướng: chính quyền địa phương ở quận, phường là cấp chính quyền địa phương gồm có HĐND quận, phường và UBND quận, phường, trừ trường hợp cụ thể Quốc hội quy định không phải là cấp chính quyền địa phương để phù hợp với đặc điểm và yêu cầu quản lý của từng đô thị.

Thứ ba, sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 72 về chính quyền địa phương ở hải đảo theo hướng: trường hợp đơn vị hành chính cấp huyện ở hải đảo chia thành các đơn vị hành chính cấp xã thì tại đơn vị hành chính cấp xã tổ chức chính quyền địa phương gồm có HĐND và UBND trừ trường hợp khác do Quốc hội quy định. Đồng thời, để tránh tình trạng tổ chức đồng nhất như nhau giữa các cơ quan thuộc chính quyền địa phương ở địa bàn hải đảo với địa bàn ở nông thôn, đô thị, Luật đã giao Chính phủ quy định việc tổ chức các cơ quan thuộc chính quyền địa phương ở địa bàn hải đảo để tạo độ linh hoạt, phù hợp với đặc điểm, tính chất, yêu cầu của từng loại hải đảo.

Thứ tư, việc tổ chức chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội quy định.

Về phân cấp, phân quyền, ủy quyền, Luật quy định làm rõ hơn các nguyên tắc và tiêu chí của việc phân cấp, ủy quyền để làm cơ sở cho các luật chuyên ngành quy định cụ thể. Quy định rõ khi thực hiện phân cấp, phân quyền phải gắn với hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và bảo đảm các điều kiện về ngân sách, nguồn nhân lực và các điều kiện cần thiết khác cho việc thực hiện phân cấp, ủy quyền để tránh việc phân cấp, ủy quyền tràn lan.

Về đại biểu HĐND, Luật đã bổ sung tiêu chuẩn về quốc tịch của đại biểu HĐND. Theo đó, quy định đại biểu HĐND có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam. Đồng thời, quy định rõ khung số lượng theo hướng giảm từ 10% đến 15% số lượng đại biểu HĐND ở từng loại hình đơn vị hành chính. Trong đó, quy định cụ thể như sau:

- Đối với HĐND tỉnh quy định: Tỉnh miền núi, vùng cao có từ 500.000 dân trở xuống được bầu 50 đại biểu; từ 500.000 dân trở lên có tối đa 75 đại biểu (trước là 85 đại biểu). Tỉnh còn lại có từ 01 triệu dân trở xuống được bầu 50 đại biểu; từ 01 triệu dân trở lên được bầu không quá 85 đại biểu (trước là 95 đại biểu).

- Đối với HĐND huyện quy định: Huyện miền núi, vùng cao, hải đảo có từ 40.000 dân trở xuống được bầu 30 đại biểu; trên 40.000 dân thì cứ thêm 7.000 dân được bầu thêm 01 đại biểu, nhưng tổng số không quá 35 đại biểu. Huyện còn lại có từ 80.000 dân trở xuống được bầu 30 đại biểu; trên 80.000 dân được bầu tối đa 35 đại biểu (trước là 40 đại biểu).

- Đối với HĐND xã quy định: Xã miền núi, vùng cao và hải đảo có từ 2000 dân trở xuống được bầu 15 đại biểu. Xã miền núi, vùng cao và hải đảo có trên 2000 dân đến dưới 3000 dân được bầu 19 đại biểu (trước là 20 đại biểu). Xã miền núi, vùng cao và hải đảo có 3000 dân được bầu 21 đại biểu; có trên 3000 thì được bầu tối đa 30 đại biểu (trước là 35 đại biểu). Xã còn lại có từ 5000 dân trở xuống được bầu 25 đại biểu; có trên 5000 dân được bầu tối đa 30 đại biểu (trước là 35 đại biểu).

- Về Thường trực HĐND và số lượng Phó Chủ tịch HĐND, Luật bỏ quy định Chánh Văn phòng trong Thường trực HĐND cấp tỉnh và quy định rõ số lượng Phó Chủ tịch HĐND cấp tỉnh. Trường hợp Chủ tịch HĐND tỉnh là đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách thì có một Phó Chủ tịch HĐND; trường hợp Chủ tịch HĐND tỉnh là đại biểu HĐND hoạt động không chuyên trách thì có hai Phó Chủ tịch HĐND. Phó Chủ tịch HĐND tỉnh là đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách. Giảm 01 Phó Chủ tịch HĐND cấp huyện (từ 02 người xuống còn 01 người). Bổ sung Trưởng ban của HĐND cấp xã là ủy viên Thường trực HĐND cấp xã.

- Về số lượng Phó Trưởng ban của HĐND cấp tỉnh, Luật quy định rõ nếu Trưởng ban hoạt động chuyên trách thì có một Phó Trưởng ban; nếu Trưởng ban hoạt động không chuyên trách thì có hai Phó Trưởng ban.

- Về HĐND cấp xã: Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 không quy định nhiệm vụ của chính quyền địa phương ở cấp xã trong việc xây dựng, quyết định và thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm. Tuy nhiên, trên thực tế, chính quyền địa phương ở cấp xã vẫn thực hiện nhiệm vụ này để cụ thể hóa các chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương do cấp huyện, cấp ủy giao và những vấn đề thực tế ở địa phương. Vì vậy, Luật đã bổ sung thẩm quyền của HĐND cấp xã thông qua kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm ở cấp xã (do UBND cấp xã xây dựng) trước khi trình UBND cấp huyện phê duyệt.

- Về số lượng Phó Chủ tịch UBND cấp xã: Qua tổng kết việc thi hành Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 cho thấy, việc giảm số lượng Phó Chủ tịch UBND cấp xã loại II, III xuống còn 01 Phó Chủ tịch đã tác động khá lớn đến hoạt động chỉ đạo, điều hành và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp xã. Trong khi đó, việc tăng số lượng Phó Chủ tịch UBND cấp xã loại II không làm tăng biên chế của cả nước vì Nghị định số 34/2019/NĐ-CP ngày 24/4/2019 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố đã xác định cụ thể số lượng cán bộ, công chức cấp xã đối với từng loại đơn vị hành chính. Do đó, Luật đã bổ sung quy định UBND cấp xã loại II có không quá 02 Phó Chủ tịch.

- Về bộ máy giúp việc của chính quyền địa phương: Luật chỉ quy định khái quát về cơ quan, chức năng, nhiệm vụ, còn tên gọi, mô hình, cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể và biên chế của bộ máy giúp việc chính quyền địa phương do Chính phủ quy định. Cách quy định khái quát, mềm dẻo như vậy sẽ vừa tạo cơ sở pháp lý cho việc cụ thể hóa chủ trương hợp nhất các Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội, Văn phòng HĐND, Văn phòng UBND cấp tỉnh, không phụ thuộc vào kết quả tổng kết thí điểm sẽ nhập 03 Văn phòng hay nhập 02 Văn phòng.

Ngoài ra, Luật còn quy định về trách nhiệm của đại biểu HĐND với cử tri, về tiếp xúc cử tri và thôi làm nhiệm vụ đại biểu HĐND; về tổ chức lại các đơn vị hành chính không đạt tiêu chuẩn theo quy định. Sửa đổi một số cụm từ cho phù hợp với thực tiễn, như thay cụm từ “họp bất thường” thành “họp chuyên đề, họp để giải quyết công việc phát sinh đột xuất” đối với kỳ họp HĐND và phiên họp UBND.

(Theo Tin hoạt động Quốc Hội)

  Gửi tin phản hồi Gửi Email In bài viết
Tin mới
Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng lấy ý kiến tham gia vào dự thảo Luật Biên phòng Việt Nam
Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng lấy ý kiến tham gia vào dự thảo Luật Cư trú (sửa đổi)
Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng lấy ý kiến tham gia vào dự thảo Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi)
Nghị quyết số 01/2020/NQ-HĐND về việc đặt tên đường và công trình công cộng trên địa bàn thành phố Hải Phòng
Nghị quyết số 02/2020/NQ-HĐND quy định mức học phí năm học 2020 - 2021 đối với các trường đại học, cao đẳng, trung cấp công lập thuộc thành phố Hải Phòng quản lý
Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐND quy định mức học phí năm học 2020 - 2021 đối với các trường công lập (giáo dục mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên) trên địa bàn thành phố Hải Phòng
Nghị quyết số 04/2020/NQ-HĐND quy định mức thưởng đối với vận động viên, huấn luyện viên thể thao thành phố Hải Phòng đạt thành tích tại các giải thể thao khu vực và quốc tế
Nghị quyết số 05/2020/NQ-HĐND quy định mức chi thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, chuẩn tiếp cận pháp luật và hòa giải ở cơ sở trên địa bàn thành phố Hải Phòng
Nghị quyết số 06/2020/NQ-HĐND về việc điều chỉnh giảm mức thu, nộp một số loại phí, lệ phí thuộc thẩm quyền của HĐND thành phố trên địa bàn thành phố Hải Phòng trong thời gian chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid-19
Nghị quyết số 07/2020/NQ-HĐND về việc phân bổ kinh phí đảm bảo trật tự an toàn giao thông và mức chi bồi dưỡng cho lực lượng thực hiện nhiệm vụ đảm bảo trật tự an toàn giao thông trên địa bàn thành phố Hải Phòng
Nghị quyết số 18 /NQ-HĐND về nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh 6 tháng cuối năm 2020 trên địa bàn thành phố
Nghị quyết số 19 /NQ-HĐND về Chương trình giám sát năm 2021 của HĐND thành phố khóa XV, nhiệm kỳ 2016 - 2021
Nghị quyết số 20 /NQ-HĐND về việc thông qua Đồ án điều chỉnh Quy hoạch chung thành phố Hải Phòng đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050
Nghị quyết số 21 /NQ-HĐND nhiệm vụ, giải pháp phát triển hệ thống hạ tầng giao thông và chống ùn tắc giao thông trên địa bàn thành phố đến năm 2030, định hướng sau năm 2030
Nghị quyết số 22 /NQ-HĐND về việc thu tiền bảo vệ, phát triển đất trồng lúa trên địa bàn thành phố Hải Phòng