Hải Phòng, ngày 19 tháng 09 năm 2020

Phát biểu của đại biểu Quốc hội Bùi Thanh Tùng thảo luận ở hội trường về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam


Kính thưa Chủ toạ phiên họp,

Kính thưa Quốc hội,

Trước hết, tôi hoàn toàn đồng tình với quan điểm của Ủy ban Quốc phòng và An ninh trong Báo cáo thẩm tra nội dung liên quan đến tên gọi của luật. Luật lần này chúng ta đưa ra là Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam. Mặc dù là bổ sung 3 điều và sửa đổi 18 điều nhưng quan điểm của Ủy ban Quốc phòng và An ninh là hiện nay một số các điều luật được sửa đổi, bổ sung nhưng chủ yếu liên quan đến các quy định về thị thực, điều kiện nhập cảnh, điều kiện xuất cảnh và cấp Giấy chứng nhận tạm trú. Do đó, tôi đồng tình với quan điểm là chúng ta giữ nguyên tên của luật là Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài chứ không phải luật sửa đổi toàn diện và nhất trí với quan điểm đã thông qua tại một kỳ họp. Bên cạnh đó, để tiếp tục hoàn thiện các nội dung trước khi Quốc hội bấm nút thông qua, qua thực tế giám sát, khảo sát về quản lý người lao động nước ngoài tại địa phương cũng như là khảo sát Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp và cũng khảo sát tình hình quản lý người Việt Nam ra nước ngoài trên địa bàn thành phố Hải Phòng. Tôi cũng có một số ý kiến đề nghị Ban soạn thảo cũng như cơ quan thẩm tra tiếp tục nghiên cứu đối với luật này như sau:

Thứ nhất, Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam hiện hành thì không quy định cụ thể trường hợp nào thuộc diện được cấp thị thực ĐT mà chỉ quy định rất chung, tức là đối với người nước ngoài vào làm việc tại doanh nghiệp. Đối với luật sửa đổi lần này thì chúng ta bổ sung thêm một đối tượng nữa, đó là ĐT1 và ĐT2. ĐT1 là ngoài vào làm việc với doanh nghiệp thì còn có nội dung là vào làm việc với các pháp nhân khác và đối với các đối tượng ở ĐT2 thì chúng ta quy định rõ ở đây là cấp cho người nước ngoài vào chào bán dịch vụ thành lập thuộc diện thương mại hoặc thực hiện các hoạt động khác theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Tuy nhiên, báo cáo với Quốc hội là qua thực tế giám sát chúng tôi thấy ở các cơ sở có kiến nghị là vì trong luật không quy định cụ thể quy trình, thủ tục, những giấy tờ gì để chứng minh mục đích nhập cảnh của người nước ngoài hay là những hoạt động cụ thể gì của người nước ngoài khi gọi là làm việc với doanh nghiệp hoặc pháp nhân, cho nên gây khó khăn cho việc chúng ta quản lý và cấp phép. Chính vì vậy, tôi đề nghị nếu chúng ta không đưa được vào luật thì sau này Chính phủ cũng phải có hướng dẫn chi tiết hơn đối với các trình tự, thủ tục và những giấy tờ chứng minh đối với các đối tượng vào làm việc với doanh nghiệp hoặc pháp nhân của Việt Nam.

Vấn đề thứ hai, theo quy định tại Điều 9 Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú cùa người nước ngoài tại Việt Nam hiện hành, quy định thị thực ký hiệu ĐT có thời hạn trong thời gian không quá 5 năm, tức là đối với nhà đầu tư. Trong dự thảo sửa đổi luật lần này, chúng ta đưa thêm vào khoản 5A đối với nhà đầu tư ở là ĐT3 thị thực không quá 3 năm và tại khoản 6 là đối với đối tượng ĐT1 và ĐT2, tức là có mức đầu tư trên 50 tỷ đồng cũng như là đối với thị thực LS tức là đối với luật sư hành nghề tại Việt Nam của người nước ngoài hành nghề tại Việt Nam không quá 5 năm. Tuy nhiên, khi rà soát lại các quy định của Bộ luật Lao động tại Điều 172 Bộ luật Lao động và Điều 7, Điều 8 Nghị định 11/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Bộ luật Lao động về lao động ở nước ngoài làm việc tại Việt Nam, thời hạn cấp giấy xác nhận tạm trú với đối tượng không thuộc diện cấp phép lao động như trường hợp cấp cho nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam lại không quá 2 năm. Như vậy, giữa Bộ luật Lao động với Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú cùa người nước ngoài tại Việt Nam có sự vênh nhau về mặt thủ tục. Chính vì vậy cho nên gây khó khăn cho việc giải quyết cấp thẻ tạm trú đối với nhà đầu tư có thời hạn trên 2 năm, tức là từ 3 năm đến 5 năm. Tôi đề nghị là chúng ta cũng đang thảo luận về Bộ luật Lao động sửa đổi thì cần có sự đồng bộ giữa Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú cùa người nước ngoài tại Việt Nam với lại Bộ luật Lao động đối với đối tượng lao động ở nước ngoài.

Vấn đề thứ ba, chúng tôi xin trao đổi đó là hiện nay tại khoản 7 Điều 8, chúng ta đã bổ sung thêm một số khoản 7a,7b, 7c, 7d, tức là cấp thị thực đầu tư cho các nhà đầu tư có mức độ góp vốn trên 100 tỷ, từ 50 đến 100 tỷ đồng, từ 3 đến 50 tỷ đồng và dưới 3 tỷ đồng. Từ thực tế giám sát ở địa phương chúng tôi thấy rất nhiều đơn vị cơ sở cho rằng là mức 3 tỉ đồng đối với nhà đầu tư nước ngoài là quá thấp. Bên cạnh đó, hiện nay Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp hiện hành cũng không quy định mức vốn đầu tư tối thiểu dẫn đến tình trạng một số nhà đầu tư nước ngoài lợi dụng quy định này để tham gia góp vốn đầu tư với một số vốn rất ít, thậm chí những trường hợp chỉ 50 triệu đồng để hưởng rất nhiều ưu đãi như được miễn giấy cấp phép lao động hay được cấp thẻ tạm trú ở lại tại Việt Nam trong một thời gian dài. Do vậy, trên thực tế chúng tôi đề nghị chỗ này luật cũng nên nghiên cứu có cần thiết phải bổ sung thêm mức tối thiểu liên quan đến mức đầu tư đối với đầu tư nước ngoài hay không.

Vấn đề thứ tư, tại Bộ luật Lao động hiện hành cũng như tại Nghị định số 11 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết đối với một số điều của Bộ luật Lao động chỉ quy định về các đối tượng được sử dụng lao động ở nước ngoài, trong đó có hộ kinh doanh cá nhân được phép hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật và nhà thầu nước ngoài hoặc trong nước tham dự thực hiện hợp đồng. Nhưng khoản 1 Điều 14 Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam hiện nay lại chưa quy định các trường hợp trên được mời bảo lãnh người nước ngoài, cho nên gây khó khăn cho công tác cấp phép nhập cảnh.

Vấn đề cuối cùng, từ thực tế địa phương chúng tôi thấy công tác quản lý xuất cảnh, nhập cảnh đối với người nước ngoài của chúng ta hiện nay thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng. Tuy nhiên, các dữ liệu về quản lý nhập cảnh, xuất cảnh giữa Bộ Công an với Bộ Quốc phòng là chưa có liên thông. Điều quan trọng nữa là giữa các dữ liệu về nhập cảnh, xuất cảnh của người nước ngoài vào Việt Nam với dữ liệu quản lý lao động người nước ngoài tại Việt Nam hiện nay cũng không có sự liên thông, từ trung ương đến địa phương cũng không có sự chia sẻ, liên thông. Chính vì vậy khi xảy ra những vi phạm thì các cơ quan cũng mất nhiều thời gian để tìm dữ liệu cũng như xác nhận lại dữ liệu giữa đối tượng nhập cảnh với đối tượng là lao động người nước ngoài hoặc những đối tượng khác.

Hiện nay đang thảo luận Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú cùa người nước ngoài tại Việt Nam, chúng ta cũng đã đưa vào trong nội dung này một điều khoản là xây dựng và có cơ chế liên thông với các cơ sở dữ liệu khác. Như vậy, đối với người nước ngoài mà chúng ta lại không xây dựng và không có cơ chế liên thông cơ sở dữ liệu nhập cảnh, xuất cảnh của nước ngoài tại Việt Nam là một điều không đồng bộ.

Tôi xin hết ý kiến./.