Hội đồng nhân dân thành phố Hải Phòng khóa XIII kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 31/3/2006
Nghị quyết số 07/2006/NQ-HĐND về đẩy mạnh cải cách hành chính giai đoạn 2006 - 2010
Hội đồng nhân dân thành phố Hải Phòng khóa XIII kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 31/3/2006
- Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003; Luật ban hành văn bản qui phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân;
- Căn cứ Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 và các văn bản pháp luật khác có liên quan;
- Căn cứ Nghị quyết số 02/NQ-TU ngày 21/3/2006 của Ban Thường vụ Thành uỷ về đẩy mạnh cải cách hành chính giai đoạn 2006-2010;
- Sau khi xem xét Tờ trình số 11/TTr-UBND ngày 24/3/2006 và Đề án số 1187/ĐA-UBND ngày 8/3/2006 của Uỷ ban nhân dân thành phố về Đẩy mạnh cải cách hành chính giai đoạn 2006-2010000; Báo cáo thẩm tra của Ban Pháp chế Hội đồng nhân dân thành phố; Hội đồng nhân dân thành phố thảo luận,
QUYẾT NGHỊ:
Điều 1. Về tình hình thực hiện chương trình cải cách hành chính 5 năm 2001-2005
Hội đồng nhân dân thành phố tán thành với đánh giá việc thực hiện Chương trình cải cách hành chính 5 năm 2001-2005 tại Tờ trình và Đề án của Uỷ ban nhân dân thành phố, đồng thời nhấn mạnh một số kết quả đạt được và khuyết điểm, hạn chế chủ yếu sau:
Về kết quả đạt được:
Công tác cải cách hành chính trên địa bàn thành phố trong 5 năm 2001-2005 đã triển khai tương đối đồng bộ trên cả 4 nội dung. Đã làm khá tốt một số việc như: Rà soát, quản lý thống nhất việc xây dựng, thẩm định, ban hành các văn bản qui phạm pháp luật. Triển khai cơ chế một cửaaaa ở cả 3 cấp, có một số mô hình tốt. Thực hiện chức năng quản lý nhà nước của các cơ quan hành chính từ thành phố đến Uỷ ban nhân dân các cấp có tiến bộ. Cơ cấu tổ chức bộ máy các cơ quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân thành phố và quận, huyện, thị xã đã sắp xếp điều chỉnh theo Nghị định của Chính phủ. Mở rộng bổ nhiệm có thời hạn đối với cán bộ, công chức lãnh đạo; bồi dưỡng kiến thức hội nhập kinh tế quốc tế, kiến thức quản lý nhà nước cho đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp. Thực hiện quyền quyết định ngân sách của Hội đồng nhân dân thành phố. Triển khai thực hiện cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp theo Nghị định số 10/2002/NĐ-CP của Chính phủ.
Về khuyết điểm, hạn chế:
So với yêu cầu đổi mới của thành phố, cũng như sự chỉ đạo của Chính phủ, công tác cải cách hành chính tiến độ triển khai còn chậm, hiệu quả thấp, chưa theo kịp yêu cầu đổi mới. Việc thực hiện cơ chế một cửaaaa ở nhiều nơi chưa thực chất, còn hình thức, còn biểu hiện nhũng nhiễu, phiền hà, tiêu cực. Thiếu sự hợp tác, phối hợp giữa các cơ quan hành chính nhà nước, làm giảm hiệu lực, hiệu quả các quyết định của chính quyền. Việc hướng dẫn triển khai phân cấp quản lý cụ thể trên từng ngành, lĩnh vực và phân cấp quản lý cho phường, xã, thị trấn còn chậm. Công tác quản lý, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chưa có nhiều đổi mới. Triển khai xã hội hoá chưa đáp ứng yêu cầu.
Điều 2. Mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp cải cách hành chính giai đoạn 2006-2010
1- Mục tiêu
- Xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng và phát triển thành phố.
- Tạo chuyển biến mạnh hơn hẳn các năm trước, phấn đấu để đến năm 2010 Hải Phòng đứng trong tốp dẫn đầu các địa phương trong cả nước về cải cách hành chính; xây dựng nền hành chính nhà nước của thành phố năng động hơn, phục vụ nhân dân tốt hơn, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội thành phố và chủ động tham gia quá trình hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả.
Năm 2006 tập trung vào các mục tiêu sau:
- Tạo bước chuyển biến rõ nét trong cải cách các thủ tục hành chính; tạo sự thông thoáng, hấp dẫn cho môi trường đầu tư, kinh doanh; nâng cao lòng tin của nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp đối với bộ máy hành chính nhà nước trong giải quyết công việc.
- Nâng cao tinh thần trách nhiệm và đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, tiến tới xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất đạo đức và năng lực công tác, 'công tâm-thạo việc' trong thực thi công vụ.
2- Nhiệm vụ
Nhất trí với các nhiệm vụ đã được đề ra trong Đề án của Uỷ ban nhân dân thành phố và đảm bảo thực hiện theo chỉ đạo của Chính phủ. Nhấn mạnh một số nhiệm vụ cần tập trung như sau:
2.1- Về cải cách thể chế: Triển khai thực hiện kịp thời, có hiệu quả các thể chế, chính sách của nhà nước ban hành. Tăng cường công tác kiểm tra và tự kiểm tra, rà soát, hệ thống hoá các văn bản qui phạm pháp luật, các qui định về thủ tục hành chính của thành phố ban hành. Thực hiện nghiêm túc Luật ban hành văn bản qui phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân. Đổi mới phương thức, qui trình, nâng cao chất lượng tiếp công dân, gặp gỡ đối thoại với doanh nghiệp; giải quyết tốt khiếu nại, tố cáo. Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửaaaa.
Năm 2006, tập trung vào một số công việc sau:
Triển khai cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửaaaa với các việc cụ thể sau: đảm bảo 100% các sở, ngành có thủ tục hành chính phải triển khai; 50% số cơ quan hành chính nhà nước triển khai cơ chế một cửaaaa thực hiện 'bộ phận tiếp nhận và trả kết quả' có một phần độc lập, chuyên trách; 100% hồ sơ tiếp nhận ở lĩnh vực dễ giải quyết, 60% hồ sơ tiếp nhận ở lĩnh vực khó giải quyết được giám sát tiến độ giải quyết, trả kết quả đúng hạn. Nếu không trả đúng hạn, Trưởng bộ phận tiếp nhận hồ sơ và trả kết quảảảả phải trực tiếp xin lỗi công dân; cán bộ, công chức nhiều lần xử lý hồ sơ lỡ hẹn, phải kiểm điểm và nếu không có lý do chính đáng phải được kịp thời thay thế.
Các sở, ngành được nêu trong Đề án phải khẩn trương xây dựng trình Uỷ ban nhân dân thành phố các qui định để áp dụng cơ chế một cửaaaa cho cơ quan mình và thống nhất áp dụng cho các quận, huyện, thị xã, phường, xã, thị trấn. Nghiên cứu áp dụng cơ chế 'một cửa' liên thông, liên quan đến nhiều cơ quan ở lĩnh vực cấp phép đầu tư, cấp phép xây dựng, giao và cho thuê đất; trước mắt thực hiện ở lĩnh vực đăng ký kinh doanh. Tổng rà soát các thủ tục hành chính, hệ thống hoá, nghiên cứu in thành sách phục vụ cho việc áp dụng thống nhất và giám sát của nhân dân. Phải minh bạch, công khai các thủ tục, thời gian, lệ phí giải quyết các thủ tục hành chính ở các cơ quan hành chính nhà nước.
Làm thí điểm đầu tư, xây dựng mô hình của bộ phận tiếp nhận hồ sơ và trả kết quảảảả mẫu, hiện đại cho một sở, một quận.
2.2- Về cải cách tổ chức bộ máy: Cải tiến phương thức quản lý, điều hành của Uỷ ban nhân dân các cấp, tăng cường nhiệm vụ quản lý nhà nước, thanh tra, kiểm tra và loại bỏ những việc làm hình thức, sự vụ. Tăng cường sự phối kết hợp giữa các sở, ngành, Uỷ ban nhân dân quận, huyện, thị xã. Tiếp tục sắp xếp, kiện toàn cơ cấu tổ chức các cơ quan chuyên môn; triển khai qui chế làm việc và sắp xếp nội bộ từng cơ quan. Thực hiện nghiêm túc các qui định mới của Chính phủ về phân cấp quản lý hành chính nhà nước giữa các cấp chính quyền địa phương; rà soát, đánh giá lại việc phân cấp quản lý hiện nay và mở rộng theo hướng phân cấp mạnh hơn về quản lý đô thị, đất đai, đền bù giải phóng mặt bằng, quản lý qui hoạch, cấp phép xây dựng, thu chi ngân sách, tổ chức và cán bộ, quản lý lĩnh vực văn hoá xã hội. Tiếp tục thực hiện tách rõ quản lý hành chính nhà nước với hoạt động sự nghiệp.
Áp dụng công nghệ thông tin vào hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước; triển khai áp dụng hệ thống quản lý chất lượng (ISO: 9001-2000), hệ thống quản lý theo kết quả (PMS) trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước. Triển khai thực hiện qui chế văn hoá công sở.
Năm 2006, tập trung vào một số công việc sau:
Uỷ ban nhân dân các cấp phải thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn theo luật định; xây dựng các qui định về đôn đốc công việc, theo dõi và đánh giá hiệu quả giải quyết công việc; nâng cao chất lượng các cuộc họp, giảm hội họp, giảm giấy tờ hành chính; dành nhiều thời gian đi giải quyết những vướng mắc ở cơ sở.
Kiện toàn tổ chức và khôi phục lại hoạt động của Hội đồng phối hợp quản lý đô thị, khắc phục sự chồng chéo trong quản lý đô thị và rút kinh nghiệm, để xây dựng Qui chế phối hợp giữa các sở, ngành và Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã.
Rà soát, ban hành, triển khai các qui định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và biên chế của các sở, ngành thuộc Uỷ ban nhân dân thành phố và kết hợp sắp xếp nội bộ các cơ quan. Kiện toàn, sắp xếp lại các Ban quản lý dự án công trình xây dựng thuộc các sở, ngành thành phố quản lý. Triển khai thành lập Sở Bưu chính-Viễn thông, Ban Thi đua-Khen thưởng thành phố.
2.3- Về xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức:
Đổi mới công tác quản lý cán bộ, công chức: xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu để từng bước chuyển sang quản lý đội ngũ cán bộ, công chức bằng mạng tin học. Nghiên cứu xác định lại cơ cấu cán bộ, công chức hợp lý, phù hợp với nhiệm vụ của từng cơ quan hành chính nhà nước. Thực hiện chế độ tuyển dụng cán bộ, công chức có bổ sung mới và qui chế mới về đánh giá, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, công chức. Tiếp tục tinh giản biên chế trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp. Tổ chức thí điểm thi tuyển chọn để bổ nhiệm Trưởng phòng, Phó trưởng phòng các sở, ngành, uỷ ban nhân dân quận, huyện, thị xã.
Tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính; triển khai áp dụng chế độ thanh tra, kiểm tra công vụ ở các cấp, kể cả chế độ trách nhiệm của người đứng đầu, khi để cơ quan, đơn vị xảy ra tiêu cực, chậm trễ, có nhiều sự kêu ca, phàn nàn của cán bộ, đảng viên, nhân dân, doanh nghiệp.
Xây dựng, ban hành thực hiện một số chế độ đãi ngộ của địa phương nhằm sử dụng có hiệu quả đội ngũ cán bộ, công chức hiện có; thu hút những người giỏi và tâm huyết về công tác tại địa phương.
Đánh giá lại công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức; xây dựng và triển khai kế hoạch có tính chiến lược về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trong bộ máy hành chính nhà nước. Triển khai thực hiện đổi mới nội dung, chương trình và phương thức đào tạo, bồi dưỡng. Kết hợp đào tạo chính qui với các hình thức đào tạo không chính qui, đào tạo trong nước và gửi đi đào tạo ngoài nước. Triển khai tổ chức lại hệ thống cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức; điều chỉnh sự phân công giữa các cơ sở đào tạo.
Tiếp tục triển khai có hiệu quả Quyết định 3203/QĐ-UB ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Uỷ ban nhân dân thành phố về việc áp dụng một số biện pháp ngăn chặn, tiến tới chấm dứt tệ gây phiền hà, sách nhiễu, tiêu cực trong cán bộ, công chức các cơ quan hành chính nhà nước thành phố. Tăng cường các biện pháp giáo dục cán bộ, công chức về tinh thần trách nhiệm, ý thức tận tâm, tận tuỵ với công việc. Định kỳ tổ chức lấy phiếu tín nhiệm đối với cán bộ, công chức để có căn cứ xem xét bố trí, sắp xếp lại. Triển khai thực hiện Qui chế công vụ, gắn với thực hiện Qui chế dân chủ, công khai, minh bạch những nội dung quy định phải được công khai trong các cơ quan hành chính nhà nước. Học tập, triển khai Luật Phòng, chống tham nhũng và Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong bộ máy nhà nước.
Năm 2006 tập trung vào một số công việc sau:
Triển khai bước 2 thực hiện Quyết định số 3203/QĐ-UB ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Uỷ ban nhân dân thành phố, 100% cán bộ, công chức phải ký cam kết không gây phiền hà, sách nhiễu, tiêu cực trong thực thi công vụ và tổ chức tốt giám sát nội bộ việc thực hiện cam kết. Tổ chức thí điểm việc lấy phiếu thăm dò dư luận để tham khảo đánh giá cơ quan và công chức. Cán bộ, công chức có dấu hiệu vi phạm, phải tạm đình chỉ công tác để kiểm điểm; nếu xác định rõ có hành vi vi phạm phải có hình thức xử lý kỷ luật kịp thời, đúng pháp luật, đồng thời cán bộ cấp trên trực tiếp cũng phải kiểm điểm trách nhiệm liên đới. Thiết lập đường dây nóng, nhằm phát hiện kịp thời những cán bộ, công chức có biểu hiện sai trái.
Làm thí điểm việc xác định cơ cấu cán bộ, công chức hợp lý; làm rõ trách nhiệm của từng cán bộ, công chức trong bộ máy. Triển khai áp dụng ISO: 9001-2000 ở 15 cơ quan.
Triển khai áp dụng chế độ công chức dự bị. Xây dựng và triển khai qui chế tuyển dụng cán bộ, công chức cơ sở.
Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về cải cách hành chính, nghiệp vụ quản lý nhà nước, kiến thức về hội nhập kinh tế quốc tế, tin học và ngoại ngữ cho cán bộ chủ chốt của các cơ quan, đơn vị, công chức làm việc tại 'bộ phận tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả' theo cơ chế 'một cửa', tạo ra bước đổi mới và nâng cao hiệu quả rõ nét.
2.4- Về cải cách tài chính công: Tiếp tục thực hiện đổi mới cơ chế phân cấp quản lý tài chính và ngân sách, phân bổ ngân sách, hướng vào kiểm soát đầu ra và chất lượng chi tiêu. Đẩy mạnh xã hội hoá trong các ngành y tế, giáo dục, thể dục thể thao, văn hoá thông tin. Chuyển một số dịch vụ công cho doanh nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ, tư nhân; có cơ chế khuyến khích các nhà đầu tư trong nước, nước ngoài đầu tư phát triển các cơ sở đào tạo, dạy nghề, đại học, trên đại học, cơ sở chữa khám bệnh có chất lượng cao; thực hiện cơ chế khoán một số dịch vụ công.
Năm 2006 tập trung vào một số công việc sau:
Thực hiện 100% số cơ quan hành chính nhà nước áp dụng khoán, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính theo Nghị định số 130/2005/NĐ-CP của Chính phủ; 50% số đơn vị sự nghiệp có thu áp dụng chế độ tài chính theo Nghị định số 10/2002/NĐ-CP của Chính phủ hoàn thành việc xây dựng qui chế chi tiêu nội bộ. Phấn đấu hoàn thành từ 30%-50% chỉ tiêu định hướng đến 2010 theo Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP của Chính phủ về xã hội hoá.Triển khai chương trình mục tiêu xây dựng trụ sở chính quyền phường, xã, thị trấn, giải quyết được 50% số phường,xã, thị trấn khó khăn về trụ sở.
3- Các giải pháp chủ yếu
3.1- Ủy ban nhân dân thành phố, Giám đốc các sở, ngành, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân quận, huyện, thị xã và phường, xã, thị trấn phải coi cải cách hành chính là nhiệm vụ trọng tâm thường xuyên, tập trung chỉ đạo quyết liệt. Tăng cường công tác kiểm tra gắn với khen thưởng, kỷ luật nghiêm minh. Nêu cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong triển khai thực hiện cải cách hành chính, người đứng đầu phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước cấp trên về kết quả cải cách hành chính và những đánh giá của tổ chức, công dân về chất lượng phục vụ của cơ quan, đơn vị mình.
Ban chỉ đạo cải cách hành chính các cấp, các sở, ngành phải hoạt động thường xuyên, có chất lượng. Bố trí cán bộ, công chức có năng lực và trách nhiệm vào bộ phận thường trực, chuyên trách về công tác cải cách hành chính.
3.2- Thực hiện cải cách hành chính đồng bộ với đổi mới hệ thống chính trị. Sự chỉ đạo cải cách hành chính phải gắn chặt với sự chỉ đạo cải cách tư pháp. Thực hiện cải cách hành chính đồng bộ từ thành phố tới các địa phương, cơ sở; đồng bộ giữa các sở, ngành, nhất là các sở, ngành có nhiệm vụ liên quan.
3.3- Tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền, phổ biến về cải cách hành chính và pháp luật liên quan để mọi cán bộ, công chức và người dân nhận thức đầy đủ, giám sát thực hiện. Tạo chuyển biến rõ nét về nhận thức nền hành chính nhà nước từ quản lý theo phương thức cũ chuyển sang hỗ trợ, phục vụ nhân dân, doanh nghiệp và nhà đầu tư. Đưa nội dung công tác cải cách hành chính vào nội dung thi đua hàng năm, có phê bình nghiêm khắc, khen thưởng kịp thời; xây dựng và nhân các điển hình tiên tiến về công tác cải cách hành chính.
Các cơ quan tuyên truyền, báo chí phải xác định rõ trách nhiệm, có các hình thức tổ chức tuyên truyền đa dạng. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể có trách nhiệm phối hợp tổ chức tuyên truyền, bồi dưỡng kiến thức về cải cách hành chính, pháp luật liên quan cho cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viênnnnCác trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp có trách nhiệm đưa nội dung cải cách hành chính và pháp luật liên quan vào chương trình giảng dạy.
3.4- Phải huy động và bố trí đủ cán bộ, công chức có năng lực, trách nhiệm triển khai thực hiện các nội dung cải cách hành chính. Nâng cao năng lực nghiên cứu và tổ chức thực hiện của các cơ quan có trách nhiệm giúp Uỷ ban nhân dân các cấp tổ chức triển khai công tác cải cách hành chính. Có chế độ, chính sách động viên cán bộ, công chức trực tiếp làm công tác cải cách hành chính.
Ưu tiên bố trí nguồn lực tài chính phù hợp từ ngân sách nhà nước đồng thời tranh thủ các nguồn tài trợ để xây dựng, thực hiện các nội dung cụ thể của công tác cải cách hành chính. Trước mắt, năm 2006, bổ sung kinh phí để: Xây dựng Đề án cụ thể thực hiện bộ phận tiếp nhận và trả kết quảảảả theo cơ chế một cửaaaa độc lập, chuyên trách; nghiên cứu, xây dựng kế hoạch, hướng dẫn, mẫu phiếu và tập huấn, tổ chức lấy phiếu thăm dò dư luận theo Quyết định 3203/QĐ-UB; sơ kết và xây dựng phương án kiện toàn và khôi phục lại hoạt động của Hội đồng phối hợp quản lý đô thị; xây dựng đề án và thực hiện thí điểm việc xác định cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức hợp lý trong cơ quan hành chính nhà nước; tập huấn, bồi dưỡng, và tuyên truyền về cải cách hành chính cho cán bộ, công chức và nhân dân; hỗ trợ xây dựng mô hình mẫu, hiện đại về thực hiện cơ chế một cửaaaa cho một sở, một quận; áp dụng ISO hành chính cho 15 cơ quan; xây dựng áp dụng chế độ phụ cấp trách nhiệm cho cán bộ, công chức làm việc tại bộ phận tiếp nhận hồ sơ và trả kết quảảảả theo cơ chế một cửaaaa và bộ phận thường trực, chuyên trách về công tác cải cách hành chính; các hoạt động khác của Ban Chỉ đạo cải cách hành chính thành phố.
3.5- Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ đảng, năm 2006 đề nghị các cấp uỷ đảng cần có ngay chương trình chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác cải cách hành chính. Triển khai thường xuyên giám sát của Hội đồng nhân dân các cấp, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể; giám sát trực tiếp của nhân dân đối với sự chỉ đạo, điều hành, triển khai công tác cải cách hành chính của Uỷ ban nhân dân và Ban Chỉ đạo cải cách hành chính các cấp, các sở, ngành.
3.6- Đẩy mạnh chống quan liêu, tham nhũng trong các cơ quan hành chính nhà nước. Triển khai các biện pháp cụ thể, nhằm phát huy vai trò giám sát của nhân dân để tiếp nhận những ý kiến khách quan, kịp thời; xem xét xử lý nghiêm minh đối với những trường hợp vi phạm.
Điều 3. Tổ chức thực hiện
Giao Uỷ ban nhân dân thành phố tiếp thu ý kiến thẩm tra của Ban pháp chế, và ý kiến của Đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố, có chương trình hành động cụ thể chỉ đạo các sở, ngành và các cấp chính quyền tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết. Hàng năm tổ chức sơ kết và báo cáo kết quả tại các kỳ họp Hội đồng nhân dân thành phố để kịp thời rút kinh nghiệm, bổ khuyết trong quá trình thực hiện.
Giao Thường trực Hội đồng nhân dân thành phố, các Ban và đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố phối kết hợp với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, phát động quần chúng nhân dân cùng tham gia thực hiện, kiểm tra, đôn đốc, giám sát việc thực hiện Nghị quyết.
Nghị quyết này đã được Hội đồng nhân dân thành phố khoá XIII kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 31/3/2006./.