5 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2021 - 2030: Nền tảng vững chắc cho giai đoạn phát triển mới

Giai đoạn 5 năm 2021 - 2025, trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường, kinh tế - xã hội nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, toàn diện trên hầu hết các lĩnh vực; tạo nền tảng vững chắc để thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển giai đoạn 2026 - 2030, hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045.

Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương đã trình bày chuyên đề: “Đánh giá 5 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2021 - 2030) và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2026 - 2030”, làm rõ những kết quả nổi bật đạt được trong giai đoạn 2021 - 2025, các bài học kinh nghiệm quan trọng, đồng thời xác định mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn tới.

Kinh tế vĩ mô ổn định, tăng trưởng cao, chất lượng ngày càng được nâng lên

Giai đoạn 5 năm (2021 - 2025) kinh tế nước ta đạt được nhiều thành tựu quan trọng, 22/26 chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu đạt và vượt, trong đó toàn bộ các chỉ tiêu về xã hội, an sinh xã hội đều vượt kế hoạch; riêng năm 2024 và 2025 đạt và vượt toàn bộ 15/15 chỉ tiêu đề ra.

Nổi bật, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, nền kinh tế liên tục tăng trưởng ở mức khá cao so với các nước trong khu vực và trung bình thế giới; chất lượng tăng trưởng có chuyển biến tích cực. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân giai đoạn 2021 - 2025 khoảng 6,3%/năm - thuộc nhóm các nền kinh tế có mức tăng trưởng cao nhất khu vực và thế giới và cao hơn nhiều so với mức bình quân 5,91%/năm giai đoạn 2011 - 2015 và 6,2%/năm giai đoạn 2016 - 2020. Quy mô GDP tăng từ 346,6 tỷ USD (2020) lên trên 514 tỷ USD (2025), xếp thứ 32 thế giới và thứ 4 ASEAN; GDP bình quân đầu người đạt khoảng 5.000 USD, đưa Việt Nam vào nhóm thu nhập trung bình cao.

Lạm phát được kiểm soát thành công, tỷ trọng nợ/GDP công giảm và thấp hơn nhiều giới hạn cho phép, bội chi ngân sách giảm. Quy mô thương mại tăng mạnh, từ 545,4 tỷ USD năm 2020 lên mức kỷ lục trên 920 tỷ USD năm 2025, thuộc nhóm 20 quốc gia dẫn đầu thế giới; xuất siêu thương mại lớn, khoảng 21,2 tỷ USD. Niềm tin môi trường kinh doanh được cải thiện.

Cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và các đột phá chiến lược

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng đạt kết quả tích cực; nền kinh tế bước đầu được cơ cấu lại theo hướng số hoá, xanh hoá, đa dạng hoá, tăng cường sức chống chịu, nâng cấp chuỗi giá trị dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo.

Cơ cấu GDP chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp - dịch vụ từ 78,6% (2020) lên 80,4% (2025), trong khi khu vực nông nghiệp giảm từ 12,7% xuống 11,6%. Kinh tế số duy trì tốc độ tăng trưởng 9 - 10%/năm, chiếm khoảng 14 - 15% GDP.

Việc thực hiện 3 đột phá chiến lược đạt nhiều kết quả tích cực, toàn diện và thực chất hơn, trong đó, việc hoàn thiện, nâng cao chất lượng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tư duy và phương pháp xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật được đổi mới theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Hệ thống pháp luật được rà soát, sửa đổi, bổ sung nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp. Phân cấp, phân quyền tiếp tục được đẩy mạnh gắn với tăng cường kiểm tra, thanh tra, kiểm toán đối với các lĩnh vực trọng yếu, dễ phát sinh tiêu cực.

Phát triển hạ tầng, vùng miền và bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội

Về phát triển kết cấu hạ tầng, đây là giai đoạn bứt phá với trên 3.000 km đường bộ cao tốc được hoàn thành, hai cảng biển cửa ngõ quốc tế Lạch Huyện, Cái Mép - Thị Vải và các cảng hàng không trọng điểm, trong đó có Cảng hàng không quốc tế Long Thành (giai đoạn 1), được đầu tư đồng bộ. Hạ tầng điện, năng lượng, hạ tầng số và các công trình giáo dục, y tế, khoa học, văn hoá, nông thôn tiếp tục được đầu tư, tạo nền tảng cho phát triển bền vững.

Phát triển kinh tế - xã hội các vùng và liên vùng được chú trọng; kinh tế biển được thúc đẩy, đạt nhiều kết quả tích cực; đô thị hóa và xây dựng nông thôn mới đạt nhiều kết quả nổi bật. Trong thời gian qua, Bộ Chính trị đã ban hành 06 Nghị quyết vùng với các định hướng thúc đẩy hình thành các hành lang kinh tế, vùng động lực, cực tăng trưởng; nhiều dự án vùng được thực hiện. Chương trình xây dựng nông thôn mới đạt kết quả nổi bật với khoảng 80% xã đạt chuẩn, 35% xã đạt chuẩn nâng cao và 10% xã đạt chuẩn kiểu mẫu.

Phát triển văn hoá, xã hội và con người đạt nhiều kết quả tích cực; đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân được nâng cao. Chỉ số phát triển con người tiếp tục được cải thiện, cao hơn nhiều so với các nước có cùng mức thu nhập. Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm từ 4,4% năm 2021 xuống khoảng 1,3% năm 2025, đời sống nhân dân, nhất là ở vùng khó khăn, được cải thiện rõ rệt. Đề án xây dựng ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội được đẩy mạnh triển khai; đến năm 2025 cơ bản xoá nhà tạm, nhà dột nát.

Năm bài học kinh nghiệm rút ra sau 5 năm thực hiện Chiến lược

Sau 5 năm đầu thực hiện Chiến lược 2021 - 2030, Đảng ta đã nhìn nhận, đánh giá các nguyên nhân khách quan, chủ quan đối với cả thành tựu và hạn chế, yếu kém, trong đó xác định nguyên nhân chủ quan là chủ yếu; đồng thời rút ra 05 bài học kinh nghiệm để thực hiện tốt hơn trong giai đoạn tới, gồm:

Thứ nhất: Tiếp tục đường lối đổi mới, có tầm nhìn chiến lược, tư duy đột phá, tạo ra nguồn lực và động lực cho phát triển. Nêu cao tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái; phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng của cả hệ thống chính trị; phát huy hiệu quả sức mạnh của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại.

Thứ hai: Nhất quán, kiên định về chiến lược, linh hoạt, mềm dẻo về sách lược; giữ bản lĩnh vững vàng; phân công, phân định rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp; nắm chắc tình hình, đề ra quyết sách linh hoạt, phù hợp, hiệu quả để lãnh đạo, chỉ đạo với quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, hiệu quả; tổ chức thực hiện bảo đảm rõ người, rõ việc, rõ tiến độ, rõ sản phẩm, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền.

Thứ ba: Tập trung nâng cao chất lượng thể chế phát triển, đáp ứng yêu cầu thực tiễn, tháo gỡ các điểm nghẽn cản trở phát triển. Bảo đảm tính nhất quán trong việc hiểu, áp dụng các quy định pháp luật. Tổ chức thực hiện pháp luật công bằng, nghiêm minh, kịp thời, hiệu lực, hiệu quả, bảo đảm thượng tôn hiến pháp và pháp luật. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Thứ tư: Mọi chủ trương, chính sách phải xuất phát từ nguyện vọng, lợi ích chính đáng và hạnh phúc của Nhân dân, bảo đảm công khai, minh bạch. Khơi dậy tinh thần cống hiến vì đất nước, phát huy ý chí tự lực, tự cường, dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới, sáng tạo, quyết liệt hành động và chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Thứ năm: Làm tốt công tác đối ngoại, hội nhập, tranh thủ mọi nguồn lực bên ngoài và sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế. Nâng cao chất lượng công tác dự báo, kịp thời tổng kết thực tiễn, đưa ra các cơ chế, chính sách, giải pháp phù hợp, hiệu quả.

Mục tiêu phát triển giai đoạn 2026 - 2030 và tầm nhìn đến năm 2045

Giai đoạn 2026 - 2030, Nghị quyết Đại hội đặt mục tiêu thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hoá tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong đó có các thành tố trọng tâm, đó là:

(1) Giữ vững môi trường hoà bình, ổn định;

(2) Phát triển nhanh, bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc;

(3) Cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống nhân dân;

(4) Tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc.

Mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể được cấu trúc thành 3 nhóm: nhóm về kinh tế có 14 mục tiêu, chỉ tiêu; nhóm về xã hội có 06 mục tiêu, chỉ tiêu; nhóm về môi trường có 05 mục tiêu, chỉ tiêu.

Để thực hiện thành công các mục tiêu nêu trên, bám sát các quan điểm chỉ đạo, Đảng ta đã đề ra các 12 định hướng; 06 nhiệm vụ trọng tâm và 03 đột phá chiến lược, đồng thời có Chương trình hành động cụ thể hóa các nhiệm vụ có thể triển khai thực hiện ngay.

Sáu nhiệm vụ trọng tâm và ba đột phá chiến lược trong nhiệm kỳ Đại hội XIV

Văn kiện Đại hội đã xác định 06 nhóm nhiệm vụ trọng tâm và 03 đột phá chiến lược.

06 nhiệm vụ trong tâm trong nhiệm kỳ Đại hội XIV bao gồm:

(1) Tập trung ưu tiên xây dựng đồng bộ thể chế phát triển, trọng tâm là hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước;

(2) Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; tăng cường hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, nhất là xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa;

(3) Đẩy mạnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện đại, hội nhập quốc tế; phát triển các thành phần, khu vực kinh tế; xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính;

(4) Tập trung triển khai đột phá về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số;

(5) Phát triển con người, phát triển văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh, động lực to lớn cho phát triển nhanh, bền vững;

(6) Xây dựng quân đội nhân dân, công an nhân dân cách mạng, tinh nhuệ, chính quy, hiện đại, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; triển khai đồng bộ, hiệu quả, sáng tạo công tác đối ngoại. 06 nhiệm vụ trọng tâm này đã được lồng ghép trong 05 nhóm vấn đề nêu trên.

Ba đột phá chiến lược xác định trong trong Nghị quyết Đại hội XIV tập trung vào những nội dung then chốt sau đây:

(1) Đột phá mạnh mẽ về thể chế phát triển, nâng cao năng lực hoạch định và tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; thúc đẩy đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phục vụ, kiến tạo phát triển; kinh tế nhà nước thực sự giữ vai trò chủ đạo; thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân; xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp mới; phát triển lực lượng sản xuất mới, các mô hình, phương thức sản xuất kinh doanh mới.

(2) Tập trung chuyển đổi cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao; đẩy mạnh thu hút và trọng dụng nhân tài; khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ.

(3) Tiếp tục hoàn thiện đồng bộ và đột phá mạnh mẽ trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; nhất là kết cấu hạ tầng giao thông đa phương thức, hạ tầng công nghệ phục vụ cho quá trình quản lý, quản trị và kiến tạo phát triển, hạ tầng phục vụ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, thích ứng với biến đổi khí hậu./.

(lược trích nguồn: Đangcongsan.vn)

Tin khác
Xây dựng Hải Phòng trở thành thành phố văn minh - hạnh phúc, hình mẫu tiêu biểu của chủ nghĩa xã...
Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, thành phố Hải Phòng đã và đang tập trung triển khai nhiều chủ trương, giải pháp mang...
Chào mừng thành công của Đại hội toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Hải Phòng tập trung triển khai 11...
Nghị quyết số 05-NQ/TU về xây dựng và triển khai thực hiện một số mô hình chủ nghĩa xã hội (CNXH) gắn với con người xã hội chủ nghĩa (XHCH) tại...
Kỳ vọng vào tầm nhìn và sự đột phá tại Đại hội XIV của Đảng
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng là sự kiện chính trị đặc biệt quan trọng của đất nước, diễn ra vào thời điểm có ý nghĩa bản lề đối...
< 1 2 > 
Tin mới nhất
Thống kê truy cập
  • Đang online: 110
  • Hôm nay: 306
  • Trong tuần: 17249
  • Tất cả: 5615691
Cổng thông tin điện tử Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân thành phố Hải Phòng
Địa chỉ: Tòa nhà A Trung tâm Chính trị - Hành chính thành phố, phường Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng
Điện thoại: 08031215 - 08031194 | Fax: 08031297