Trong thời gian còn lại của phiên họp buổi chiều ngày
26/11/2024, Quốc hội tiếp tục làm việc tại hội trường dưới sự chủ trì của Chủ
tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn.

* Dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội
Nguyễn Khắc Định, Quốc hội nghe Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy
ban Pháp luật của Quốc hội Hoàng Thanh Tùng trình bày Báo cáo giải trình, tiếp
thu, chỉnh lý dự thảo Luật Công chứng (sửa đổi); sau đó, Quốc hội biểu
quyết thông qua Luật Công chứng (sửa đổi) bằng hình thức biểu quyết
điện tử, kết quả: có 452 đại biểu tham gia biểu quyết (bằng 94,36% tổng số đại
biểu Quốc hội), có 449 đại biểu tán thành (bằng 93,74% tổng số đại biểu Quốc
hội), có 01 đại biểu không tán thành (bằng 0,21% tổng số đại biểu Quốc hội), có
02 đại biểu không biểu quyết (bằng 0,42% tổng số đại biểu Quốc hội).
Luật Công chứng quy định về công chứng viên, tổ chức hành
nghề công chứng, việc hành nghề công chứng, thủ tục công chứng và quản lý nhà
nước về công chứng.
Đối với giao dịch phải công chứng là giao dịch quan
trọng, đòi hỏi mức độ an toàn pháp lý cao và được luật quy định hoặc luật giao
Chính phủ quy định phải công chứng. Bộ Tư pháp có trách nhiệm rà soát, cập
nhật, đăng tải các giao dịch phải công chứng, chứng thực trên Cổng thông tin
điện tử của Bộ Tư pháp.
Về văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động theo
quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan đối với loại
hình công ty hợp danh; tại các đơn vị hành chính cấp huyện có mật độ dân số
thấp, cơ sở hạ tầng và dịch vụ chưa phát triển và khó khăn trong việc thành lập
Văn phòng công chứng theo loại hình công ty hợp danh, Văn phòng công chứng được
tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật
có liên quan đối với loại hình công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân.
Chính phủ quy định danh mục các đơn vị hành chính cấp
huyện được thành lập Văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động theo loại
hình doanh nghiệp tư nhân và việc chuyển đổi loại hình Văn phòng công chứng tại
các đơn vị hành chính cấp huyện này.
Trong đó, Văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động
theo loại hình công ty hợp danh phải có từ 02 thành viên hợp danh trở lên và
không có thành viên góp vốn. Các thành viên hợp danh phải là công chứng viên và
có quyền ngang nhau khi quyết định các vấn đề của Văn phòng công chứng. Trưởng
Văn phòng công chứng phải là thành viên hợp danh của Văn phòng công chứng và đã
hành nghề công chứng từ đủ 02 năm trở lên.
Văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động theo loại
hình doanh nghiệp tư nhân thì chủ doanh nghiệp tư nhân đồng thời là Trưởng Văn
phòng công chứng và phải là công chứng viên đã hành nghề công chứng từ đủ 02
năm trở lên.
Về tổ chức hành nghề công chứng sẽ bao gồm Phòng công
chứng và Văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật
này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Trong đó, Bộ Tư pháp có trách nhiệm xây dựng, trình Chính
phủ ban hành chiến lược phát triển về lĩnh vực công chứng; hướng dẫn các địa
phương xây dựng Đề án quản lý, phát triển các tổ chức hành nghề công chứng.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm ban hành Đề án
quản lý, phát triển các tổ chức hành nghề công chứng; xem xét, quyết định
chuyển giao thẩm quyền chứng thực giao dịch từ Phòng Tư pháp cấp huyện, Ủy ban
nhân dân cấp xã sang tổ chức hành nghề công chứng tại những địa bàn cấp huyện
đã phát triển được tổ chức hành nghề công chứng đáp ứng yêu cầu công chứng của
cá nhân, tổ chức theo quy định của Chính phủ.
Về bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của công chứng viên,
Luật quy định đây là loại hình bảo hiểm bắt buộc. Tổ chức hành nghề công chứng
có nghĩa vụ mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công chứng viên hành nghề
tại tổ chức mình. Việc mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công chứng viên
phải được duy trì trong suốt thời gian hoạt động của tổ chức hành nghề công
chứng.
Chậm nhất là 10 ngày làm việc kể từ ngày mua bảo hiểm
hoặc kể từ ngày thay đổi, gia hạn hợp đồng bảo hiểm, tổ chức hành nghề công
chứng có trách nhiệm thông báo và gửi bản sao hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng thay
đổi, gia hạn hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của công chứng viên cho
Sở Tư pháp.
Chính phủ quy định chi tiết điều kiện, quy tắc bảo hiểm,
mức phí bảo hiểm, số tiền bảo hiểm tối thiểu đối với bảo hiểm trách nhiệm nghề
nghiệp của công chứng viên.
Liên quan tới vấn đề bồi thường thiệt hại trong hoạt động
công chứng, Tổ chức hành nghề công chứng phải bồi thường thiệt hại cho người
yêu cầu công chứng và cá nhân, tổ chức khác do lỗi của công chứng viên, nhân
viên của tổ chức mình gây ra trong quá trình công chứng.
Trường hợp tổ chức hành nghề công chứng đã chuyển đổi,
hợp nhất, sáp nhập thì tổ chức hành nghề công chứng kế thừa quyền và nghĩa vụ
của tổ chức hành nghề công chứng đó có trách nhiệm bồi thường thiệt hại; trường
hợp tổ chức hành nghề công chứng đã giải thể, chấm dứt hoạt động thì công chứng
viên, nhân viên trực tiếp gây thiệt hại phải tự mình bồi thường thiệt hại, kể
cả trường hợp người đó không còn là công chứng viên hoặc nhân viên của 01 tổ
chức hành nghề công chứng.
Công chứng viên, nhân viên trực tiếp gây thiệt hại phải
hoàn trả cho tổ chức hành nghề công chứng khoản tiền mà tổ chức đã bồi thường
cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật, kể cả trường hợp người đó
không còn là công chứng viên hoặc nhân viên của 01 tổ chức hành nghề công
chứng; trường hợp công chứng viên, nhân viên trực tiếp gây thiệt hại không hoàn
trả thì tổ chức hành nghề công chứng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về hiệu lực, Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025.
Luật Công chứng số 53/2014/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật
số 28/2018/QH14 và Luật số 16/2023/QH15 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này
có hiệu lực thi hành, trừ trường hợp quy định tại các khoản 1, 2, 3, 6, 7, 9,
11, 12 và 14 Điều 76 của Luật này.

* Dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội
Nguyễn Đức Hải, Quốc hội nghe Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy
ban Kinh tế của Quốc hội Vũ Hồng Thanh trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu,
chỉnh lý dự thảo Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn; sau đó, Quốc hội
biểu quyết thông qua Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn bằng hình thức
biểu quyết điện tử, kết quả như sau: có 456 đại biểu tham gia biểu quyết (bằng
95,20% tổng số đại biểu Quốc hội), có 455 đại biểu tán thành (bằng 94,99% tổng
số đại biểu Quốc hội), có 01 đại biểu không biểu quyết (bằng 0,21% tổng số đại
biểu Quốc hội).
Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn được Quốc hội thông
qua gồm 05 Chương và 59 Điều, quy định về hệ thống quy hoạch đô thị và nông
thôn; lập, thẩm định, phê duyệt, rà soát, điều chỉnh, tổ chức quản lý quy hoạch
đô thị và nông thôn; quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị và nông thôn.
Luật quy định các quy hoạch đô thị và nông thôn phải được
lập, thẩm định, phê duyệt bảo đảm tính đồng bộ, phù hợp giữa các loại và cấp độ
quy hoạch theo các nguyên tắc sau: Các quy hoạch chung có thể được lập đồng
thời với nhau; trường hợp quy hoạch chung khác cấp thẩm quyền phê duyệt thì quy
hoạch chung có cấp thẩm quyền phê duyệt cao hơn phải được phê duyệt trước;
trường hợp quy hoạch chung có cùng cấp thẩm quyền phê duyệt thì quy hoạch chung
được lập, thẩm định xong trước được phê duyệt trước; Quy hoạch phân khu cụ thể
hóa quy hoạch chung về: mục tiêu phát triển; chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật; định
hướng phát triển, tổ chức không gian và phân khu chức năng; định hướng phát
triển hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội và không
gian ngầm (nếu có). Nội dung, yêu cầu và nguyên tắc bảo đảm cụ thể hóa phải
được xác định, quy định rõ trong quy hoạch.
Quy hoạch chi tiết cụ thể hóa quy hoạch phân khu hoặc quy
hoạch chung đối với trường hợp không quy định lập quy hoạch phân khu về: mục
tiêu, yêu cầu đầu tư phát triển; phương án và yêu cầu tổ chức không gian, kiến
trúc cảnh quan; chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật; chức năng, chỉ tiêu sử dụng đất
quy hoạch; giải pháp quy hoạch hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình
hạ tầng xã hội. Nội dung, yêu cầu và nguyên tắc bảo đảm cụ thể hóa phải được
xác định, quy định rõ trong quy hoạch.
Quy hoạch không gian ngầm và quy hoạch chuyên ngành hạ
tầng kỹ thuật đối với một thành phố trực thuộc trung ương phải đồng bộ với
nhau; cụ thể hóa mục tiêu phát triển, định hướng quy hoạch không gian ngầm và
hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật khung; thống nhất và đồng bộ với định
hướng phát triển không gian, kiến trúc cảnh quan tại quy hoạch chung thành phố
trực thuộc trung ương. Nội dung, yêu cầu và nguyên tắc bảo đảm cụ thể hóa phải
được xác định, quy định rõ trong quy hoạch.
Theo quy định của Luật này, đô thị được phân thành 6 loại
gồm loại đặc biệt, loại I, loại II, loại III, loại IV và loại V theo quy định
của pháp luật về phân loại đô thị. Việc xác định tiêu chuẩn và phân loại đơn vị
hành chính đô thị và đơn vị hành chính nông thôn thực hiện theo quy định của
pháp luật về tổ chức chính quyền địa phương. Căn cứ vào tình hình phát triển
kinh tế - xã hội của từng giai đoạn, Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội
quy định cụ thể về phân loại đô thị bảo đảm các xu hướng phát triển đô thị
xanh, thông minh, hiện đại, bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Về kinh phí cho hoạt động quy hoạch đô thị và nông thôn,
Luật quy định Nhà nước bảo đảm kinh phí cho hoạt động quy hoạch đô thị và nông
thôn theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước. Nguồn kinh phí phục vụ
cho hoạt động quy hoạch đô thị và nông thôn bao gồm: Kinh phí chi thường xuyên
từ ngân sách nhà nước; Kinh phí của tổ chức được lựa chọn làm chủ đầu tư; Nguồn
kinh phí hợp pháp khác.
Kinh phí cho hoạt động quy hoạch đô thị và nông thôn được
sử dụng đối với các công việc sau đây: Khảo sát địa hình phục vụ lập quy hoạch
đô thị và nông thôn; Lập và điều chỉnh, lấy ý kiến, thẩm định, phê duyệt nhiệm
vụ quy hoạch, quy hoạch đô thị và nông thôn; Quản lý nghiệp vụ công tác lập quy
hoạch đô thị và nông thôn; Công bố, công khai quy hoạch đô thị và nông thôn;
Cắm mốc theo quy hoạch đô thị và nông thôn; Lập báo cáo rà soát quy hoạch; tổ
chức đấu thầu; tổ chức thi tuyển ý tưởng quy hoạch; lấy ý kiến về quy hoạch;
Xây dựng, quản lý, vận hành cơ sở dữ liệu quy hoạch đô thị và nông thôn; Công
việc khác liên quan đến hoạt động quy hoạch đô thị và nông thôn.
Việc quản lý kinh phí cho hoạt động quy hoạch đô thị và
nông thôn thực hiện theo pháp luật về ngân sách nhà nước, pháp luật về quy
hoạch và pháp luật có liên quan. Chính phủ quy định chi tiết khoản này. Bộ
trưởng Bộ Xây dựng ban hành định mức, phương pháp lập và quản lý chi phí cho
hoạt động quy hoạch đô thị và nông thôn.
Về công bố quy hoạch đô thị và nông thôn, Luật quy định
rõ, chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày quy hoạch đô thị và nông thôn được phê
duyệt, nội dung của quy hoạch phải được công bố công khai; đối với những nội
dung thuộc bí mật nhà nước phải bảo đảm tuân thủ quy định pháp luật về bảo vệ
bí mật nhà nước. Nội dung, tài liệu công bố quy hoạch bao gồm: Quyết định phê
duyệt nhiệm vụ quy hoạch (nếu có); Quyết định phê duyệt quy hoạch; Các bản vẽ
quy hoạch; Thuyết minh quy hoạch; Quy định quản lý theo quy hoạch đô thị và
nông thôn.
Đối với việc xây dựng cơ sở dữ liệu quy hoạch đô thị và
nông thôn, Luật quy định, cơ sở dữ liệu quy hoạch đô thị và nông thôn bao gồm
dữ liệu điện tử của hồ sơ quy hoạch sau khi phê duyệt, cơ sở dữ liệu địa lý về
quy hoạch đô thị và nông thôn gắn với hệ thống cơ sở dữ liệu nền địa lý quốc
gia đã được chuẩn hóa. Hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu được xây dựng, quản
lý và chia sẻ thống nhất trên cả nước, phục vụ cho hoạt động quy hoạch đô thị
và nông thôn.
Cơ sở dữ liệu quy hoạch đô thị và nông thôn phải được
triển khai xây dựng trong quá trình lập, tổ chức thực hiện quy hoạch và phải
được cập nhật thường xuyên; bảo đảm kết nối đồng bộ với cơ sở dữ liệu quốc gia
về quy hoạch, cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai; bảo đảm phục vụ công tác quản
lý; đáp ứng yêu cầu về công khai, minh bạch, quyền tiếp cận thông tin của các
cơ quan, tổ chức và người dân. Chính phủ quy định việc xây dựng, quản lý, vận
hành, khai thác cơ sở dữ liệu quy hoạch đô thị và nông thôn.
Luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2025. Đối
với quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị, thiết kế đô thị riêng đã được phê
duyệt trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì được tiếp tục có hiệu lực
đến hết thời hạn hiệu lực của quy hoạch theo quy định của Luật này.
* Dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức
Hải, Quốc hội nghe Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Tài
chính, Ngân sách của Quốc hội Lê Quang Mạnh trình bày Báo cáo giải trình, tiếp
thu, chỉnh lý dự thảo Luật Thuế giá trị gia tăng (sửa đổi); sau đó, Quốc
hội biểu quyết thông qua Luật Thuế giá trị gia tăng (sửa đổi) bằng hình
thức biểu quyết điện tử, kết quả: có 451 đại biểu tham gia biểu quyết
(bằng 94,15% tổng số đại biểu Quốc hội), có 407 đại biểu tán thành (bằng 84,97%
tổng số đại biểu Quốc hội), có 36 đại biểu không tán thành (bằng 7,52% tổng số đại
biểu Quốc hội), có 08 đại biểu không biểu quyết (bằng 1,67% tổng số đại biểu
Quốc hội).
Luật Thuế giá trị gia tăng (sửa đổi) được Quốc hội thông
qua gồm 04 Chương và 17 Điều. Luật quy định, thuế giá trị gia tăng là thuế tính
trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản
xuất, lưu thông đến tiêu dùng.
Thời điểm xác định thuế giá trị gia tăng được quy định
như sau: Đối với hàng hóa là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử
dụng hàng hóa cho người mua hoặc thời điểm lập hóa đơn không phân biệt đã thu
được tiền hay chưa thu được tiền; Đối với dịch vụ là thời điểm hoàn thành việc
cung ứng dịch vụ hoặc thời điểm lập hóa đơn cung ứng dịch vụ, không phân biệt
đã thu được tiền hay chưa thu được tiền.
Mức thuế suất 0% áp dụng đối với: Hàng hóa xuất khẩu, bao
gồm: hàng hóa từ Việt Nam bán cho tổ chức, cá nhân ở nước ngoài và được tiêu
dùng ở ngoài Việt Nam; hàng hóa từ nội địa Việt Nam bán cho tổ chức trong khu
phi thuế quan và được tiêu dùng trong khu phi thuế quan phục vụ trực tiếp cho
hoạt động sản xuất xuất khẩu; hàng hóa đã bán tại khu vực cách ly cho cá nhân
(người nước ngoài hoặc người Việt Nam) đã làm thủ tục xuất cảnh; hàng hóa đã
bán tại cửa hàng miễn thuế; Dịch vụ xuất khẩu, bao gồm: dịch vụ cung ứng trực
tiếp cho tổ chức, cá nhân ở nước ngoài và được tiêu dùng ở ngoài Việt Nam; cung
ứng trực tiếp cho tổ chức ở trong khu phi thuế quan và được tiêu dùng trong khu
phi thuế quan phục vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuất xuất khẩu.
Hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu khác gồm: vận tải quốc tế;
dịch vụ cho thuê phương tiện vận tải được sử dụng ngoài phạm vi lãnh thổ Việt
Nam; dịch vụ của ngành hàng không, hàng hải cung ứng trực tiếp hoặc thông qua
đại lý cho vận tải quốc tế; hoạt động xây dựng, lắp đặt công trình ở nước ngoài
hoặc ở trong khu phi thuế quan; sản phẩm nội dung thông tin số cung cấp cho bên
nước ngoài và có hồ sơ, tài liệu chứng minh tiêu dùng ở ngoài Việt Nam theo quy
định của Chính phủ; phụ tùng, vật tư thay thế để sửa chữa, bảo dưỡng phương
tiện, máy móc, thiết bị cho bên nước ngoài và tiêu dùng ở ngoài Việt Nam; hàng
hóa gia công chuyển tiếp để xuất khẩu theo quy định của pháp luật; hàng hóa,
dịch vụ thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng khi xuất khẩu, trừ các
trường hợp không áp dụng mức thuế suất 0% quy định tại điểm d khoản này.
Các trường hợp không áp dụng thuế suất 0% gồm: chuyển
giao công nghệ, chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ ra nước ngoài; dịch vụ tái
bảo hiểm ra nước ngoài; dịch vụ cấp tín dụng; chuyển nhượng vốn; sản phẩm phái
sinh; dịch vụ bưu chính, viễn thông; sản phẩm xuất khẩu quy định tại khoản 23
Điều 5 của Luật này; thuốc lá, rượu, bia nhập khẩu sau đó xuất khẩu; xăng, dầu
mua tại nội địa bán cho cơ sở kinh doanh trong khu phi thuế quan; xe ô tô bán
cho tổ chức, cá nhân trong khu phi thuế quan. Chính phủ quy định chi tiết khoản
này. Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định hồ sơ, thủ tục áp dụng thuế suất thuế giá
trị gia tăng 0% quy định tại khoản này.
Luật quy định, mức thuế suất 5% áp dụng đối với hàng hóa,
dịch vụ sau đây: Nước sạch phục vụ sản xuất và sinh hoạt không bao gồm các loại
nước uống đóng chai, đóng bình và các loại nước giải khát khác; Phân bón, quặng
để sản xuất phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và chất kích thích tăng trưởng vật
nuôi theo quy định của pháp luật; Dịch vụ đào đắp, nạo vét kênh, mương, ao hồ
phục vụ sản xuất nông nghiệp; nuôi trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh cho cây
trồng; sơ chế, bảo quản sản phẩm nông nghiệp.
Sản phẩm cây trồng, rừng trồng (trừ gỗ, măng), chăn nuôi,
thuỷ sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ
qua sơ chế thông thường, trừ sản phẩm quy định tại khoản 1 Điều 5 của Luật này;
Mủ cao su dạng mủ cờ rếp, mủ tờ, mủ bún, mủ cốm; lưới, dây giềng và sợi để đan
lưới đánh cá; Sản phẩm bằng đay, cói, tre, nứa, lá, rơm, vỏ dừa, sọ dừa, bèo
tây và các sản phẩm thủ công khác sản xuất bằng nguyên liệu tận dụng từ nông
nghiệp; xơ bông đã qua chải thô, chải kỹ; giấy in báo; Tàu khai thác thủy sản
tại vùng khơi, vùng biển; máy móc, thiết bị chuyên dùng phục vụ cho sản xuất
nông nghiệp theo quy định của Chính phủ.
Thiết bị y tế theo quy định của pháp luật về quản lý
thiết bị y tế; thuốc phòng bệnh, chữa bệnh; sản phẩm hóa dược, dược liệu là
nguyên liệu sản xuất thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; Thiết bị dùng để giảng
dạy và học tập, gồm các loại mô hình, hình vẽ, bảng, phấn, thước, com-pa; Hoạt
động nghệ thuật biểu diễn truyền thống, dân gian; Đồ chơi cho trẻ em; sách các
loại, trừ sách quy định tại khoản 15 Điều 5 của Luật này; Dịch vụ khoa học,
công nghệ theo quy định của Luật Khoa học và công nghệ; Bán, cho thuê, cho thuê
mua nhà ở xã hội theo quy định của Luật Nhà ở.
Luật quy định các hành vi bị nghiêm cấm trong khấu trừ,
hoàn thuế gồm: Mua, cho, bán, tổ chức quảng cáo, môi giới mua, bán hóa đơn. Tạo
lập giao dịch mua, bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ không có thật hoặc giao dịch
không đúng quy định của pháp luật. Lập hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ trong thời
gian tạm ngừng hoạt động kinh doanh, trừ trường hợp lập hóa đơn giao cho khách
hàng để thực hiện các hợp đồng đã ký trước ngày thông báo tạm ngừng kinh doanh.
Sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp, sử dụng không hợp pháp hóa đơn, chứng
từ quy định của Chính phủ. Không chuyển dữ liệu hóa đơn điện tử về cơ quan thuế
theo quy định. Làm sai lệch, sử dụng sai mục đích, truy cập trái phép, phá hủy
hệ thống thông tin về hóa đơn, chứng từ. Đưa, nhận, môi giới hối lộ hoặc thực
hiện các hành vi khác liên quan đến hóa đơn, chứng từ để được khấu trừ thuế,
hoàn thuế, chiếm đoạt tiền thuế, trốn thuế giá trị gia tăng...
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025, trừ
trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này. Theo khoản 2, quy định về mức doanh
thu của hộ, cá nhân kinh doanh thuộc đối tượng không chịu thuế tại khoản 25
Điều 5 Luật này và khoản 3 Điều này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Thứ tư, ngày 27/11/2024, Buổi sáng: Quốc hội họp phiên
toàn thể ở hội trường, biểu quyết thông qua các nội dung: Luật Phòng không nhân
dân; Luật Công đoàn (sửa đổi); Nghị quyết của Quốc hội về chủ trương đầu tư
Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025 - 2035; sau
đó, Quốc hội thảo luận về dự án Luật Việc làm (sửa đổi); Buổi
chiều: Quốc hội họp phiên toàn thể ở hội trường, biểu quyết thông qua
các nội dung: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế; Nghị
quyết về chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy
đến năm 2030; sau đó, Quốc hội thảo luận về dự án Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt
(sửa đổi). Từ 16 giờ 45, Quốc hội họp riêng về công tác nhân
sự./.
HN