Theo nội dung, chương trình Kỳ họp thứ Tám, Quốc
hội đã tiến hành thảo luận tại hội trường về Tình hình thi hành Hiến pháp; thi
hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội. Cổng Thông tin điện tử Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân
thành phố Hải Phòng trân trọng giới thiệu nội dung ý kiến tham gia bằng văn bản
của Phó Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội chuyên trách Lã Thanh Tân gửi đến Tổng
Thư ký Quốc hội tổng hợp:
Kính gửi:
Tổng Thư ký Quốc hội.

Xuất phát từ thực tiễn quản lý các Khu công nghiệp,
Khu kinh tế (KCN, KKT) tại thành phố Hải Phòng, tôi xin đề xuất Quốc hội, Chính
phủ một số vấn đề như sau:
1. Một số vấn
đề chung
Xây dựng và phát triển Khu công nghiệp, Khu kinh tế là chủ
trương lớn và nhất quán của Đảng, Nhà nước nhằm tạo ra khu vực trọng điểm tập trung tạo đột phá thu hút tối đa
nguồn lực, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; đã được Chính phủ ban hành nhiều quy
định để bổ sung, hoàn thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động thông qua mô hình quản
lý “Một cửa, tại chỗ” là Ban Quản lý Khu kinh tế, các Khu công nghiệp.
Nghị quyết 45-NQ/TW ngày 24/01/2019 của Bộ
Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn
đến năm 2045 đã xác định mục tiêu xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng trở
thành thành phố đi đầu cả nước trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; động
lực phát triển của vùng Bắc Bộ và cả nước; có công nghiệp phát triển hiện đại,
thông minh, bền vững.
Nghị quyết 30-NQ/TW ngày 23/11/2022 của Bộ
Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng
bằng Sông Hồng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã xác định mục tiêu phát
triển thành phố Hải Phòng xanh, thông minh, cơ bản đạt các tiêu chí đô thị
loại đặc biệt, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trở thành
trung tâm logistics quốc tế hiện đại; Nghiên cứu, ban hành cơ chế, chính sách
ưu đãi để xây dựng khu vực Hải Phòng - Quảng Ninh trở thành trung tâm kinh tế biển
hiện đại, mang tầm quốc tế, hàng đầu ở Đông Nam Á, là cửa ngõ, động lực phát
triển của vùng.
Trong thời gian tới, nhằm thực hiện tốt mục
tiêu, nhiệm vụ đã xác định tại Nghị quyết 45-NQ/TW và Nghị quyết 30-NQ/TW nêu
trên cũng như tranh thủ dư địa phát triển của các khu công nghiệp, khu kinh tế
hiện tại, thành phố Hải Phòng dự kiến sẽ tiếp tục thành lập thêm 20 khu công
nghiệp mới với diện tích 7.000 - 7.600 ha.
Sau hơn 30 năm xây dựng và phát
triển, hệ thống các Khu công nghiệp, Khu kinh tế đã đóng góp tích cực vào
thành tựu tăng trưởng và phát triển của thành phố. Hiện nay, thành phố Hải Phòng đang nhận được sự
quan tâm rất lớn từ nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước, bao gồm cả các nhà đầu
tư từ Mỹ, châu Âu, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Singapore... với nhiều dự án
có hàm lượng công nghệ cao, có khả năng dẫn dắt nhiều doanh nghiệp vệ tinh, có
hướng phát triển theo cụm liên kết ngành, đặt ra cho thành phố một bài toán rất
lớn về mặt bằng khu công nghiệp để thu hút đầu tư.
Hiện nay, trên địa bàn thành phố Hải Phòng có
14 khu công nghiệp đã được thành lập, với tổng diện tích 6.100 ha và 01 Khu
kinh tế với tổng diện tích 22.540 ha; các khu công nghiệp đều được đầu tư từ
nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách (chỉ có 03 doanh nghiệp liên doanh giữa Ủy ban
nhân dân thành phố và doanh nghiệp tư nhân thực hiện từ trước năm 2000, hiện
thành phố đang báo cáo, đề xuất Thủ tướng Chính phủ xem xét chủ trương thoái vốn
nhà nước); có tiến độ đầu tư xây dựng và kinh doanh, lấp đầy khu công nghiệp
khá nhanh (Khu công nghiệp Tràng Duệ giai đoạn 2 chỉ mất 5 năm để đầu tư xây dựng
và lấp đầy trên 90%, các khu công nghiệp khác hầu hết đều có tỷ lệ cho thuê lại
trên tỷ lệ đất được nhà nước giao, cho thuê ở mức cao); lũy kết đến nay đã thu
hút 802 dự án đầu tư với tổng vốn lên tới 41 tỷ USD; trong đó bao gồm 574 dự án
FDI với tổng vốn đầu tư 27,4 tỷ USD và 228 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn
đầu tư 320.500 tỷ đồng (khoảng 13,7 tỷ USD); suất đầu tư trung bình đạt 12 triệu
USD/ha. Trong số đó có nhiều dự án lớn của các tập đoàn đa quốc gia, có giá trị
gia tăng cao, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, có đóng góp quan trọng
trong phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hải Phòng nói riêng, vùng đồng bằng
sông Hồng và cả nước nói chung như: Tổ hợp dự án của Tập đoàn LG (Hàn Quốc) với
tổng vốn đăng ký đạt 8,24 tỷ USD; Tổ hợp sản xuất ô tô Vinfast với tổng vốn đầu
tư 175.000 tỷ đồng (tương đương 7,6 tỷ USD); Tập đoàn Bridgestone với tổng vốn
1,224 tỷ USD; Công ty Pegatron với tổng vốn 800 triệu USD...
Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp rất lớn nêu trên, trước
các yêu cầu phát triển thu hút đầu tư mới, các Nghị định về quản lý KCN, KKT
đến nay cũng đã bộc lộ nhiều vướng mắc, bất cập, cụ thể là:
- Các nghị định về quản lý khu công nghiệp, khu kinh tế
từ trước đến nay, bao gồm cả Nghị định 35/2022/NĐ-CP là các nghị định không
phải là văn bản hướng dẫn thi hành luật nào, nhưng phạm vi điều chỉnh lại bao
gồm các đối tượng của nhiều luật liên quan như: Luật Quy hoạch, Luật Đầu tư,
Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Bảo vệ môi trường... dẫn tới sự chồng chéo,
vướng mắc, thậm chí xung đột trong quá trình triển khai thực hiện. Đặc biệt
trong thời gian qua, các quy định nêu trên thay đổi tương đối nhiều, nhiều nội
dung của Nghị định 35/2022/NĐ-CP đến nay cũng không còn phù hợp.
- Trong thời gian tới, KCN, KKT tiếp tục là một khu vực
kinh tế trọng điểm ngày càng quan trọng, có vai trò quyết định trong phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước và của các địa phương; đặc biệt trong bối cảnh
thế giới đang có những biến động vô cùng nhanh và mạnh mẽ trong các mối quan hệ
kinh tế - địa - chính trị; thay đổi mạnh mẽ và nhanh chóng trong xu hướng sinh
thái và sự phát triển của khoa học công nghệ. Những điều này đòi hỏi quốc gia
phải có những điều chỉnh, bao gồm cả những thể chế pháp luật mạnh mẽ hơn, hiệu
quả hơn trong quản lý, phát triển đối với khu vực khu công nghiệp, khu kinh tế,
để đây thực sự trở thành động lực tiên phong, dẫn dắt quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước thành công, đưa đất nước trở thành một quốc gia phát
triển trong thời gian tới.
- Ban Quản lý Khu công nghiệp, khu kinh tế là cơ quan một
cửa tại chỗ, quản lý các hoạt động tại các khu công nghiệp, khu kinh tế, bao
gồm các lĩnh vực về đầu tư, xây dựng, đất đai, môi trường, lao động... Đây là
một mô hình tổ chức hành chính hiệu quả cao, tạo niềm tin rất lớn cho cộng đồng
doanh nghiệp do hầu hết các thủ tục được thực hiện một chỗ, xuyên suốt, nhất
quán trong cả quá trình hoạt động. Tuy nhiên, thực tế do chịu sự chi phối bởi
nhiều luật khác nhau, hoạt động theo sự ủy quyền của các cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương và
địa phương, nên các hoạt động của Ban Quản lý KCN, KKT còn lệ thuộc, bị động chưa
thực sự phát huy được hiệu quả của mô hình “Một đầu mối - Một cửa tại chỗ” bởi
địa vị pháp lý chưa được xác định rõ ràng; một số công việc chưa được phân cấp,
phân quyền tối đa trên các lĩnh vực đầu tư, môi trường, quy hoạch, đất đai, lao
động... dẫn đến bối rối cho các doanh nghiệp. Trong bối cảnh thế giới đang
chuyển biến mạnh mẽ chưa từng có về khoa học, kỹ thuật, các công nghệ mới đã và
đang trở thành xu hướng quan trọng trong tất cả các lĩnh vực, ngành nghề, bao
gồm cả quản lý nhà nước; việc phân tán các quy định liên quan đến KCN, KKT (bao
gồm cả các trình tự, thủ tục liên quan) trong nhiều pháp luật khác nhau tạo ra
một trở ngại lớn trong việc xây dựng mô hình quản lý cơ sở dữ liệu tập trung,
làm nền tảng cho việc xây dựng mô hình chuyển đổi số phù hợp, xuyên suốt.
Từ những phân tích nêu trên, tôi cho rằng việc
ban hành Luật Khu công nghiệp, Khu kinh tế sẽ là một cơ sở quan trọng để thúc đẩy
mạnh mẽ hoạt động chuyển đổi số trong khu vực khu công nghiệp, khu kinh tế, bao
gồm cả về quản lý nhà nước và trong hoạt động của các doanh nghiệp và các bên
liên quan.
2. Một số vấn
đề liên quan đến từng lĩnh vực quản lý
Nghị định số 35/2022/NĐ-CP của
Chính phủ về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế được ban hành ngày
28/5/2022, có hiệu lực từ ngày 01/7/2022, thay thế Nghị định số 82/2018/NĐ-CP
ngày 22/5/2018 của Chính phủ, trong đó có một số nội dung đổi mới so với Nghị
định số 82/2018/NĐ-CP được xem như một bước đột phá về cơ chế chính sách, kịp
thời tháo gỡ những nút thắt, khơi thông phát triển các khu công nghiệp và khu
kinh tế, nhưng trong quá trình thực hiện vẫn bộc lộ một số khó khăn, vướng mắc
trên các lĩnh vực. Ban Quản lý các Khu công nghiệp, Khu kinh tế là cơ quan hành
chính trực thuộc Ủy ban nhân dân có chức
năng kiểm tra giám sát nhưng lại chưa được phân cấp ủy quyền chức năng xử phạt
hành chính đối với các doanh nghiệp trong lĩnh vực quản lý, dẫn đến chức
năng quản lý nhà nước trực tiếp của Ban Quản lý đối với các doanh nghiệp tại
các Khu công nghiệp, Khu kinh tế chưa được phát huy đồng bộ, triệt để. Mặt khác, việc phân
cấp, ủy quyền trên các lĩnh vực môi trường, lao động, đầu tư, xuất nhập khẩu...
còn rất hạn chế, chưa thực chất, cụ thể như sau:
2.1. Về lĩnh vực đầu tư
Về thẩm quyền
chấp thuận chủ trương đầu tư dự án Khu công nghiệp (KCN)
Đối với thành phố Hải Phòng,
các KCN trên địa bàn thành phố hiện nay đóng một
vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của thành phố. Trong
khi đó, Nghị quyết 45-NQ/TW ngày 24/01/2019 của Bộ Chính trị về xây dựng và
phát triển thành phố Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và Nghị quyết
30-NQ/TW ngày 23/11/2022 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội và bảo
đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng Sông Hồng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm
2045 đều đã xác định mục tiêu, nhiệm vụ rất lớn đối với thành phố Hải Phòng phải
trở thành thành phố đi đầu cả nước trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa; động lực phát triển của vùng Bắc Bộ và cả nước; có công nghiệp phát triển
hiện đại, thông minh, bền vững. Do đó, việc đẩy mạnh phát triển các KCN
trên địa bàn thành phố Hải Phòng là rất cần thiết và phù hợp
với chủ trương của Đảng và Nhà nước đối với thành phố Hải Phòng.
Tuy nhiên, các điều kiện thành lập KCN hiện
nay đã được quy định cụ thể tại Luật Đầu tư và Điều 9 Nghị định 35/2022/NĐ-CP
nhưng việc thành lập các KCN hiện nay thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ
và do Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan chủ trì tiếp nhận hồ sơ, thẩm định theo
quy định; thực tế dù đã được các Bộ, ngành rất quan tâm nhưng thời gian thực hiện
tương đối dài; chưa được phân cấp cho các địa phương để tăng thêm tính chủ động,
đảm bảo phù hợp với nhu cầu và thực tiễn quản lý, phát triển kinh tế - xã hội của
địa phương.
Trước
yêu cầu đó, đề nghị Thủ tướng Chính
phủ phân cấp, ủy quyền cho Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng được chấp thuận
chủ trương đầu tư đối với Dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng
khu công nghiệp, khu chế xuất phù hợp với quy hoạch được Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt trên địa bàn thành phố nhằm giảm bớt các quy trình, thủ tục hành chính, tiết
kiệm thời gian, chi phí cho cơ quan nhà nước và đơn vị đề xuất, đồng thời đảm bảo
phù hợp nhu cầu và thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của thành phố. Để đảm
bảo sự phù hợp các quy định pháp luật liên quan, trong quá trình thẩm định, cơ
quan chủ trì thẩm định có trách nhiệm lấy ý kiến của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và
các Bộ, ngành liên quan trước khi tổng hợp, báo cáo Ủy ban nhân dân thành phố
chấp thuận chủ trương đầu tư.
- Về điều kiện tỷ lệ lấp đầy:
Khoản 6 Điều 9 Nghị định số 35/2022/NĐ-CP quy định:
Tại thời điểm trình báo cáo nghiên cứu tiền khả thi dự án hạ tầng khu công
nghiệp theo quy định của pháp luật về đầu tư công hoặc nộp hồ sơ đề nghị chấp
thuận chủ trương đầu tư dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng khu
công nghiệp hợp lệ theo quy định của pháp luật về đầu tư, tỷ lệ lấp đầy bình
quân của các khu công nghiệp đã được thành lập trên địa bàn tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương đạt tối thiểu là 60%.
Hiện nay, trên địa bàn
thành phố Hải Phòng có 14 khu công nghiệp đã được thành lập, với tổng diện tích
6.100 ha, tỷ lệ lấp đầy bình quân các khu công nghiệp hiện nay là khoảng 65%. Nhưng
nếu tính theo diện tích đất đã được giao, không tính diện tích lấn biển nhưng
chưa san lấp tạo lập mặt bằng thì tỷ lệ lấp đầy bình quân đạt khoảng 84%. Tuy
nhiên, với tỷ lệ lấp đầy bình quân các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố
như trên, hiện thành phố chỉ có thể thành lập thêm 1-2 khu công nghiệp, giai đoạn
đến 2030 dự kiến thành lập được thêm 3-4 khu công nghiệp; không thể chủ động
đáp ứng được yêu cầu về mặt bằng để kịp thời thu hút
các nhà đầu tư.
Việc đầu tư xây dựng và
phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng có đặc thù về
việc lấn biển, có thời gian thực hiện dài (do vướng mắc trong các thủ tục giao
mặt biển, các yêu cầu về đầu tư tuyến đê biển, san lấp mặt bằng ảnh hưởng do
giá cát san lấp tăng cao...); nhưng khi được đầu tư xây dựng thì có tiến độ đầu
tư xây dựng nhanh; hầu như diện tích được giao đều được lấp đầy trong thời gian
ngắn; các khu công nghiệp trong quy hoạch hiện đều đã có các nhà đầu tư quan
tâm, đề xuất.
Do đó, đề nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét chấp
thuận: “Việc đầu tư thành lập các
khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng không thuộc trường hợp phải áp
dụng điều kiện về tỷ lệ lấp đầy bình quân các khu công nghiệp trên địa bàn
thành phố đạt tối thiểu 60% theo quy định của pháp luật về khu công nghiệp, khu
kinh tế”hoặc
chỉ đạo các Bộ, ngành nghiên cứu, xem xét lại quy định về tỷ lệ lấp đầy bình
quân các KCN trên địa bàn, trong đó đánh giá đầy đủ về các điều kiện đặc thù,
thực tế triển khai và các yêu cầu cụ thể về phát triển kinh tế - xã hội, quốc
phòng, an ninh của từng địa phương. Đồng thời, xem xét áp dụng các chế tài kinh
tế như: tiền đặt cọc, bảo lãnh ngân hàng... đối với các chủ đầu tư khu công
nghiệp thay cho quy định tỷ lệ lấp đầy 60% một cách cứng nhắc như trên.
- Về việc cấp đăng ký kinh doanh đồng thời với đăng ký
đầu tư:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 67 Nghị định số 35/2022/NĐ-CP ngày
28/5/2022 của Chính phủ, Ban quản lý khu công
nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế là cơ quan trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
thực hiện chức năng quản lý nhà nước trực tiếp đối với khu công nghiệp, khu
kinh tế trên địa bàn tỉnh hoặc thành phố trực thuộc trung ương; quản lý và tổ
chức thực hiện chức năng cung ứng dịch vụ hành chính công và dịch vụ hỗ trợ
khác có liên quan đến hoạt động đầu tư và sản xuất, kinh doanh cho doanh nghiệp
trong khu công nghiệp, khu kinh tế.
Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 22 Luật Đầu tư: Trước khi thành lập tổ chức
kinh tế, nhà đầu tư nước ngoài phải có dự án đầu tư, thực hiện thủ tục cấp, điều
chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, trừ trường hợp thành lập doanh nghiệp nhỏ
và vừa khởi nghiệp sáng tạo và quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo theo quy định của
pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Tuy nhiên, đối với các dự án trong KCN, KKT hiện
nay, Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng là cơ quan nhà nước quản lý trực tiếp,
thực hiện chấp thuận chủ trương đầu tư, cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư; còn
việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp do Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc
Sở Kế hoạch và Đầu tư thực hiện.
Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng được thành lập với
mục tiêu hỗ trợ tối đa cho các nhà đầu tư, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi
trong KCN, KKT. Tuy nhiên, sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư tại
Ban Quản lý Khu kinh tế, Nhà đầu tư phải thực hiện thủ tục để thành lập doanh
nghiệp tại Phòng Đăng ký kinh doanh - Sở Kế hoạch và Đầu tư. Trong quá trình thực
hiện các dự án, nhà đầu tư thực hiện hầu hết các thủ tục khác liên quan đến hoạt
động của doanh nghiệp tại Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng. Thực tiễn cho thấy
việc thực hiện thủ tục tại 2 cơ quan như vậy sẽ kéo dài thời gian thực hiện thủ
tục; làm giảm hiệu quả hoạt động của Ban Quản lý, chưa thể hiện đầy đủ tinh thần
nhất quán “một cửa, tại chỗ”, giảm sức hấp dẫn của môi trường đầu tư tại KCN,
KKT Hải Phòng.
Vì vậy, đề nghị phân cấp cho Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng thực hiện
thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp nhằm mục tiêu: hoàn thiện cơ
chế một cửa, tại chỗ, cho phép doanh nghiệp thực hiện tất cả thủ tục hành chính
liên quan đến đầu tư, thành lập doanh nghiệp tại một đầu mối duy nhất là Ban Quản
lý Khu kinh tế, tạo sự thuận tiện tối đa cho nhà đầu tư; Nâng cao hiệu lực, hiệu
quả quản lý nhà nước: Tăng cường vai trò, trách nhiệm của Ban Quản lý Khu kinh
tế trong công tác thu hút đầu tư, quản lý đầu tư và quản lý doanh nghiệp, góp
phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; đơn giản hóa thủ tục hành
chính, rút ngắn thời gian, chi phí cho doanh nghiệp, tạo môi trường đầu tư thuận
lợi, hấp dẫn, thu hút đầu tư vào KCN, KKT Hải Phòng, góp phần thúc đẩy phát triển
kinh tế - xã hội.
2.2. Về lĩnh vực quy hoạch xây
dựng
2.2.1. Về quy hoạch
Khoản 6 Điều 7 Nghị định
35/2022/NĐ-CP quy định trừ trường hợp lập quy hoạch xây dựng khu công nghiệp tại
khu vực đã có quy hoạch chung xây dựng được phê duyệt hoặc khu công nghiệp phù
hợp với quy hoạch chung xây dựng khu kinh tế đã được phê duyệt thì mới phải lấy
ý của các Bộ liên quan đối với đồ án quy hoạch chung xây dựng hoặc đồ án quy hoạch
phân khu xây dựng khu công nghiệp. Tuy nhiên, nội dung này chưa phù hợp với Nghị
định 44/2015/NĐ-CP ngày 06/05/2014 và không có hướng dẫn xử lý chuyển tiếp.
Đề nghị bỏ quy định về
lấy ý kiến cộng đồng dân cư và hạn chế việc tham vấn ý kiến các Sở, ngành liên
quan khi thực hiện trình tự thủ tục thẩm định, phê duyệt đồ án Quy hoạch chi tiết
tỷ lệ 1/500 hoặc Quy hoạch tổng mặt bằng dự án thứ cấp trong KCN. Vì các lô đất
này nằm trong KCN, đảm bảo phù hợp với các Quy hoạch cấp trên và không tiếp
giáp trực tiếp với các khu dân cư; đồng thời trong quá trình thẩm định, phê duyệt
đồ án Quy hoạch phân khu 1/2000 KCN, cơ quan tổ chức lập đồ án Quy hoạch đã lấy
ý kiến của cộng đồng dân cư xung quanh KCN và các Sở, ngành liên quan. Do đó, cần
có những quy định pháp luật riêng đối với đồ án Quy hoạch nêu trên trong
KCN để rút ngắn thời gian và đơn giản
hóa việc giải quyết thủ tục hành chính, đảm bảo thu hút đầu tư và hỗ trợ các
nhà đầu tư thứ cấp.
2.2.2. Về thẩm định dự án
Hiện nay, Ban Quản lý Khu kinh
tế Hải Phòng đang thực hiện thẩm định chủ trương đầu tư, quyết định chủ trương
đầu tư đối với một số dự án thuộc thẩm quyền của UBND thành phố nhưng thực hiện
trong phạm vi khu kinh tế. Tuy nhiên, việc thẩm định báo cáo nghiên cứu khả
thi, kiểm tra công tác nghiệm thu dự án nhóm A vẫn phải trình cấp trên, thường
mất nhiều thời gian do số lượng dự án thẩm định tại các Bộ rất lớn, quy trình
thủ tục phức tạp. Trong khi đó, Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng có đủ năng lực,
đội ngũ cán bộ chuyên môn về xây dựng, kinh nghiệm trong việc thực hiện các nhiệm
vụ thẩm định dự án nhóm A. Việc phân cấp thẩm quyền thẩm định báo cáo nghiên cứu
khả thi, kiểm tra công tác nghiệm thu dự án nhóm A cho Ban Quản lý Khu Kinh tế
Hải Phòng trong một số trường hợp nhất định sẽ: Rút ngắn thời gian, đơn giản
hóa thủ tục đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư; Nâng cao năng lực,
hiệu quả hoạt động của Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng. Góp phần thúc đẩy tiến
độ triển khai dự án, thu hút đầu tư vào khu kinh tế.
2.3. Về lĩnh vực môi trường
Theo quy định tại Nghị định số 35/2022/NĐ-CP quy định
về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế, Ban Quản lý Khu kinh tế được phân cấp,
ủy quyền thực hiện một số nhiệm vụ về môi trường, bao gồm: “Tổ chức, thực hiện thẩm định,
phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường; cấp, cấp đổi,
điều chỉnh, cấp lại, thu hồi giấy phép môi trường đối với dự án đầu tư trong
khu công nghiệp, khu kinh tế”. Tuy nhiên, việc phân cấp,
ủy quyền này đang vướng mắc với các quy định tại Luật Bảo vệ Môi trường 2020 và
Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015. Cụ thể:
- Luật Bảo vệ môi trường 2020 quy định thẩm quyền thẩm
định báo cáo đánh giá tác động môi trường, cấp giấy phép môi trường thuộc: Bộ
Tài nguyên và Môi trường, UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện, không quy định ủy quyền
cho Ban Quản lý KCN, KKT.Luật Tổ chức chính quyền địa
phương quy định UBND cấp trên chỉ có thể ủy quyền cho UBND cấp dưới hoặc cơ
quan chuyên môn thuộc UBND cùng cấp, không bao gồm cơ quan hành chính khác như
Ban Quản lý KCN, KKT. Việc thiếu cơ sở pháp
lý rõ ràng dẫn đến khó khăn trong việc thực hiện cơ chế “một cửa, tại chỗ” tại
Ban Quản lý KCN, KKT. Doanh nghiệp phải thực hiện thủ tục về môi trường tại nhiều
cơ quan khác nhau, gây mất thời gian, công sức và chi phí, không đáp ứng được kỳ
vọng của nhà đầu tư, giảm sức hút trong việc thu hút đầu tư.
Hiện
nay, Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng đã được UBND thành phố ủy quyền thẩm định,
phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường; cấp, cấp đổi,
điều chỉnh, thu hồi giấy phép môi trường đối với các dự án đầu tư trong KCN,
KKT thuộc
thẩm quyền của UBND thành phố theo Quyết định số 2469/QĐ-UBND ngày
01/8/2022. Tuy nhiên, việc ủy quyền này không được đảm bảo xuyên suốt mà luôn bị
thay đổi theo các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành theo từng giai đoạn
khác nhau. Mặt khác, Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng chưa được UBND các quận,
huyện ủy quyền thẩm định, cấp, cấp đổi, điều chỉnh, cấp lại, thu hồi Giấy phép
môi trường đối với các dự án đầu tư trong các KCN, KKT thuộc thẩm quyền của UBND cấp huyện.
Việc này dẫn đến hiệu quả quản lý về công tác bảo vệ môi trường chưa
cao, chưa đủ là một cơ quan có đầy đủ thẩm quyền ổn định đảm bảo thực hiện mô
hình “Một cửa, tại chỗ” để tạo niềm tin và đáp ứng hiệu quả các yêu cầu thu hút
và quản lý các nhà đầu tư.
Do đó, việc ban hành Luật về KCN, KKT (theo đó,
ưu tiên đề xuất việc thực hiện phân cấp, phân quyền thay cho cơ chế uỷ quyền) sẽ
tập trung thống nhất đầu mối thực hiện thủ tục hành chính tại địa bàn các khu
công nghiệp, khu kinh tế; tạo điều kiện thuận lợi lớn cho doanh nghiệp, đúng
theo tinh thần và xu hướng tăng cường thực hiện cơ chế “một cửa, tại chỗ” một
cách thực chất, đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư và yêu cầu phát triển chung.
2.4. Lĩnh vực Lao động
Việc phân cấp, uỷ quyền về nhiệm vụ liên quan đến lĩnh vực
lao động theo quy định trước đây tại Nghị định số 35/2022/NĐ-CP ngày 28/5/2022
của Chính phủ quy định về quản lý KCN và KKT, cụ thể như sau:
- Phân cấp cho Ban Quản lý KCN, KKT thực hiện các nhiệm vụ
theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 68 Nghị định số 35/2022/NĐ-CP:
“2. Ban quản lý khu công nghiệp,
khu kinh tế thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
đ) Cấp, cấp lại, gia hạn, thu hồi
Giấy phép lao động và xác nhận người lao động nước ngoài không thuộc diện cấp
giấy phép lao động cho người nước ngoài làm việc trong khu công nghiệp, khu
kinh tế.
Thực hiện một số nhiệm vụ, quyền
hạn của cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với
lao động làm việc trong khu công nghiệp, khu kinh tế, bao gồm: tổ chức thực hiện
đăng ký nội quy lao động; báo cáo tình hình sử dụng lao động; tiếp nhận báo cáo
tình hình sử dụng người lao động nước ngoài, báo cáo tình hình thay đổi lao động
qua Cổng dịch vụ công quốc gia; tiếp nhận và xử lý hồ sơ đăng ký thực hiện hợp
đồng nhận lao động thực tập của doanh nghiệp, hoạt động đưa người lao động đi
thực tập ở nước ngoài dưới 90 ngày cho doanh nghiệp trong khu công nghiệp, khu
kinh tế; nhận báo cáo về việc cho thuê lại lao động, kết quả đào tạo, bồi dưỡng
nâng cao trình độ kỹ năng nghề hằng năm; thông báo tổ chức làm thêm từ trên 200
giờ đến 300 giờ trong một năm của doanh nghiệp trong khu công nghiệp, khu kinh
tế”.
- Phân cấp, uỷ quyền cho Ban Quản lý KCN, KKT thực hiện
các nhiệm vụ theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 68 Nghị định số
35/2022/NĐ-CP:
“3. Các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy
ban nhân dâp cấp tỉnh và cơ quan nhà nước có thẩm quyền phân cấp, ủy quyền cho
Ban quản lý khu công nghiệp, khu kinh tế thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
c) Nhận báo cáo về việc cho thôi
việc nhiều người lao động; tiếp nhận báo cáo giải trình của doanh nghiệp trong
khu công nghiệp, khu kinh tế về nhu cầu sử dụng người nước ngoài đối với từng vị
trí công việc mà người Việt Nam chưa đáp ứng được”.
Tuy nhiên, một số nhiệm vụ này đã bị bãi bỏ tại Nghị định
số 70/2023/NĐ-CP ngày 18/9/2023 của Chính phủ. Theo đó, các nhiệm vụ Cấp, cấp lại,
gia hạn, thu hồi Giấy phép lao động và xác nhận người lao động nước ngoài không
thuộc diện cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài làm việc trong KCN, KKT;
tiếp nhận báo cáo tình hình sử dụng người lao động nước ngoài; tiếp nhận báo
cáo giải trình của doanh nghiệp trong KCN, KKT về nhu cầu sử dụng người nước
ngoài đối với từng vị trí công việc mà người Việt Nam chưa đáp ứng được do Sở
Lao động - Thương binh và Xã hội thực hiện dẫn đến việc giải quyết các thủ tục
và quản lý nhà nước trong khu công nghiệp, khu kinh tế thiếu sự thống nhất,
xuyên suốt; các doanh nghiệp phải thực hiện các thủ tục hành chính tại nhiều cơ
quan khác nhau thay vì thực hiện theo cơ chế hành chính “Một cửa tại chỗ”.
Việc phân cấp, ủy quyền cho Ban Quản lý Khu kinh tế
Hải Phòng thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về lao động trong KCN, KKT đã
được triển khai thực hiện từ năm 2008 đến nay theo quy định tại: Nghị định số
29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008; Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018; Thông
tư hướng dẫn số 32/2014/TT-BLĐTBXH ngày 01/12/2014 của Bộ LĐ-TB&XH và mới
nhất là Nghị định số 35/2022/NĐ-CP ngày 28/5/2022 của Chính phủ.
Nội dung phân cấp một số nhiệm vụ quản lý nhà nước
về lao động trong KCN, KKT cho Ban Quản lý thực hiện là xuất phát từ yêu cầu thực
tiễn, bảo đảm tuân thủ các quy định pháp luật có liên quan, đặc biệt đã tạo cơ
sở pháp lý ổn định cho Ban Quản lý KCN, KKT các tỉnh, thành phố thực hiện nhiệm
vụ quản lý nhà nước về lao động trong KCN, KKT một cách thống nhất, đồng bộ, hiệu
quả và phù hợp với yêu cầu phát triển của các KCN, KKT. Việc dừng phân cấp cho
Ban quản lý thực hiện nhiệm vụ quản lý lao động người nước ngoài sẽ gây khó
khăn cho các doanh nghiệp và làm xáo trộn việc thực hiện các thủ tục quản lý
nhà nước về lao động nước ngoài trong KCN, KKT, đặc biệt là việc nắm bắt, hỗ trợ
kịp thời các vấn đề phát sinh, khó khăn, vướng mắc đối với nhà đầu tư, doanh
nghiệp và các chuyên gia lao động người nước ngoài làm việc trong KCN, KKT.
2.5. Về lĩnh vực thương mại, xuất
nhập khẩu
- Việc phân cấp, ủy quyền của Bộ quản lý chuyên ngành cho
các Ban Quản lý đối với một số lĩnh vực liên quan trực tiếp đến
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong
các KCN, KKT như: lĩnh vực thương mại, xuất nhập khẩu, sản xuất công nghiệp còn
rất hạn chế. Một số nhiệm vụ
trước đây từng ủy quyền cho các Ban Quản lý thực hiện tại Nghị định số
29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ như Cấp Giấy phép kinh doanh đối với
hoạt động mua bán hàng hóa của thương nhân nước ngoài trong các KCN, KKT đã
không còn được duy trì kể từ thời điểm Nghị định 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ về quản lý
khu công nghiệp và khu kinh tế ban hành, thay thế Nghị định số
29/2008/NĐ-CP.
- Đối với nhiệm vụ cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa: Căn cứ điểm a, khoản 3, Điều 68, Nghị
định 35/2022/NĐ-CP, Bộ Công Thương phân cấp, ủy quyền cho Ban Quản lý khu công
nghiệp, khu kinh tế thực hiện cấp các loại Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa cho
hàng hóa sản xuất tại khu công nghiệp, khu kinh tế và các giấy phép, chứng chỉ,
chứng nhận khác trong khu công nghiệp, khu kinh tế. Tuy nhiên, việc ủy quyền
cấp C/O đối với các Ban quản lý khu công nghiệp, khu kinh tế còn rất hạn chế.
Hiện nay hầu hết các Ban Quản lý chỉ được ủy quyền cấp C/O mẫu D trong khuôn
khổ Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN. Ngoài ra, thời hạn uỷ quyền cấp C/O
mẫu D của Bộ Công Thương hiện chỉ trong thời gian ngắn (01 năm). Việc phải thực
hiện đề nghị gia hạn ủy quyền cấp C/O hàng năm có thể ảnh hưởng đến tính ổn
định trong việc thực hiện thủ tục hành chính về cấp C/O tại Ban Quản lý.
2.6. Về hoạt động
thanh tra, kiểm tra, giám sát
Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng
chỉ thực hiện chức năng quản lý, kiểm tra, giám sát đầu tư đối với các dự án
trong các KCN, KKT trên địa bàn thành phố Hải Phòng; không được phân cấp, uỷ
quyền về chức năng Thanh tra, không có chức năng xử phạt vi phạm hành chính nên
công tác quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp, dự án trong Khu kinh tế
Đình Vũ - Cát Hải và các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng chưa
đạt hiệu quả cao.
2.7. Các vướng mắc khác liên quan
Hiện tại, thành phố Hải Phòng
đang triển khai một số dự án khu công nghiệp, khu phi thuế quan. Theo quy định
tại Điều 4 Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2016: Khu phi thuế quan
là khu vực kinh tế nằm trong lãnh thổ Việt Nam, được thành lập theo quy định của
pháp luật, có ranh giới địa lý xác định, ngăn cách với khu vực bên ngoài bằng
hàng rào cứng, bảo đảm Điều kiện cho hoạt động kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải
quan của cơ quan hải quan và các cơ quan có liên quan đối với hàng hóa xuất khẩu,
nhập khẩu và phương tiện, hành khách xuất cảnh, nhập cảnh; quan hệ mua bán,
trao đổi hàng hóa giữa khu phi thuế quan với bên ngoài là quan hệ xuất khẩu, nhập
khẩu. Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện các thủ tục về đầu tư, quy hoạch,
xây dựng, đất đai và các thủ tục khác liên quan đối với khu phi thuế quan hiện
gặp rất nhiều vướng mắc do chưa được cụ thể hóa trong các quy định pháp luật
liên quan.
Hiện nay thành phố Hải Phòng
đang nghiên cứu để thành lập khu thương mại tự do trong đó tập trung nghiên cứu,
đánh giá, phân tích các cơ chế, chính sách, kinh nghiệm, cách làm hay ở trong
nước và quốc tế, đặc biệt là các cơ chế, chính sách đang được áp dụng tại các
khu thương mại tự do thành công trên thế giới, để có thể vận dụng phù hợp với
điều kiện của thành phố Hải Phòng theo đúng tinh thần Nghị quyết 45-NQ/TW của Bộ
Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng đến năm 2030, tầm nhìn
đến năm 2045. Tuy nhiên, đây là một khái niệm mới, chưa được quy định cụ thể
trong pháp luật hiện hành nên việc nghiên cứu, đề xuất gặp rất nhiều khó khăn.
Khu vực nghiên cứu hiện tại của Khu thương mại tự do tại Hải Phòng nằm tại khu
vực quy hoạch KCN Tiên Lãng 1 (đã được xác định trong Quy hoạch chung thành phố,
cập nhật trong Quy hoạch thành phố thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 để
trình Thủ tướng Chính phủ) nhưng việc thực hiện các thủ tục thành lập chưa có
cơ sở pháp lý, có được coi như một KCN để áp dụng quy định của Nghị định
35/2022/NĐ-CP hay không.
Nghị định 35/2022/NĐ-CP đã có
nhiều quy định cụ thể về phát triển KCN, KKT, nhưng chưa xem xét đến các yếu tố
đặc thù và các định hướng phát triển của các địa phương, vùng; đã đưa ra một số
loại hình KCN, nhưng chưa phân loại việc phát triển các KCN theo các tiêu chí
khác như: nguồn vốn (ngân sách, ngoài ngân sách), mức độ áp dụng công nghệ, suất
vốn, hiệu quả đầu tư...
Nghị định 35/2022/NĐ-CP chỉ
quy định về trình tự, thủ tục thành lập các KCN mới, chưa có quy định về việc
điều chỉnh hoặc chuyển đổi từ các dự án khác hiện có sang Dự án đầu tư xây dựng
và kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN tại các khu vực đã được quy hoạch phát triển
KCN.
Một số nội dung hướng dẫn thực
hiện Nghị định 35/2022/NĐ-CP chưa được ban hành, dẫn đến lúng túng cho các cơ
quan tại địa phương trong quá trình thực hiện (hướng dẫn về các loại hình KCN;
hướng dẫn về tổ chức bộ máy các Ban Quản lý KCN, KKT; hướng dẫn về các hoạt động
xúc tiến đầu tư vào các KCN, KKT; hướng dẫn về Hệ thống thông tin các KCN, KKT;
hướng dẫn về các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ liên quan đến các KCN,
KKT; hướng dẫn về KKT trọng điểm; hướng dẫn thực hiện các nhiệm vụ chuyển đổi số
trong KCN, KKT...).
Chưa có cơ chế, hình thức liên
kết, chia sẻ thông tin và các nội dung hợp tác giữa các cơ quan quản lý nhà nước
về KCN, KKT tại các địa phương và Trung ương.
Xin kính gửi Tổng Thư ký Quốc hội tổng hợp, báo cáo Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội./.