Đồ Sơn là địa danh có lẽ
đã rất quen thuộc với nhiều người Việt Nam. Vùng đất khá đặc biệt của thành phố
Hải Phòng ấy ghi dấu trong lòng người bởi phong cảnh hữu tình, giàu trầm tích
văn hóa.
Nhắc đến Đồ Sơn, người
ta nhắc đến du lịch biển, đến những món ăn ngon từ hải sản, đến lễ hội chọi
trâu tưng bừng, đến những di tích như đền Bà Đế, chùa Hang, chùa và tháp Tường
Long... Nhưng nếu chỉ thế thôi, vẫn còn chưa đủ; vẫn là “mắc nợ” với Đồ Sơn nhiều
lắm. Không chỉ “mắc nợ” với Đồ Sơn, mà còn mắc nợ với cả một giai đoạn lịch sử
hào hùng của dân tộc; mắc nợ với biết bao anh hùng liệt sỹ đã anh dũng ra đi từ
mảnh đất này...
Bởi nhắc đến Đồ Sơn, điều
tôi muốn nói đầu tiên chính là địa danh thiêng liêng: Bến K15
1. Bến K15 là bến gì?

Đài tưởng niệm tại cụm di tích Quốc gia đặc biệt Bến K15
Nhiều năm trước, khi
còn rất trẻ, thực sự mỗi lần đến Đồ Sơn tôi cũng chỉ quan tâm đến biển. Nhưng
quan tâm đến biển, tôi cũng như nhiều du khách khác, chỉ quanh quẩn nơi bãi tắm.
Tôi biết đến bến K15 lại tình cờ từ một chuyến tham quan Vũng Rô (tỉnh Phú Yên
cũ), nơi có di tích Bến tàu Không số.
Bến tàu Không số ở Vũng
Rô là nơi tiếp nhận vũ khí chi viện từ miền Bắc qua con đường Hồ Chí Minh trên
biển huyền thoại trong chiến tranh chống Mỹ. Và con đường biển huyền thoại ấy
có điểm xuất phát đầu tiên là tại Đồ Sơn (Hải Phòng), với mật danh bến cho tàu
xuất phát là Bến K15. Khi ấy, tôi đã ngỡ ngàng trong ý nghĩ: hóa ra nơi mình đến
bao lần lại là nơi mình chưa hiểu gì đáng kể... Tôi mới chỉ nghe nhiều về bến
Nghiêng ở Đồ Sơn, nơi những tên thực dân Pháp cuối cùng rút chạy khỏi Hải
Phòng, cũng là rút chạy khỏi miền Bắc vào ngày 15/5/1955. Và cũng có lúc tôi nhầm
lẫn: bến Nghiêng với bến K15 là một!
Nhưng không phải thế!
Xét về vị trí địa lý, Bến
Nghiêng chỉ cách Bến K15 một đoạn đường ngắn chừng vài trăm mét. Bến Nghiêng nằm
ở chân đồi Nghinh Phong, được thực dân Pháp cho xây dựng năm 1946 với quy mô là
một bến cảng quân sự để tiếp nhận các tàu chở vũ khí, phục vụ cho mưu đồ chiến
tranh của chúng tại Hải Phòng và cả miền Bắc. Cái tên Bến Nghiêng được người
dân gọi bởi vạt bê tông cấu tạo nên bến có độ nghiêng rõ rệt từ mép nước lên tới
rìa đường.
Trong mưu đồ mở rộng
chiến tranh, thực dân Pháp có ý định dồn lực, nạo vét luồng lạch, cải tạo bến
Nghiêng thành một cảng lớn nước sâu, có thể tiếp nhận nhiều tàu lớn. Nhưng chưa
thực hiện nổi ý đồ đó thì chúng đã thua chạy. Những tên thực dân Pháp cuối cùng
thất thểu chạy xuống bến Nghiêng, lên tàu về nước ngày 15/5/1955 cũng là hình ảnh
đánh dấu ngày giải phóng thành phố Hải Phòng kiên trung, anh dũng. Bến Nghiêng
đã được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch công nhận là Di tích lịch sử kháng chiến
cấp Quốc gia vào năm 2009.
Từ bến Nghiêng đi vào
chừng 500 mét nữa sẽ đến bến K15. Nếu lấy con đường Vạn Hương chạy dưới chân dải
đồi Cửu Long 9 ngọn làm tâm điểm, đi từ phía trung tâm bãi tắm khu 2 vào
thì bến Nghiêng nằm bên phải đường còn bến K15 nằm bên trái, trong vụng Sét, dưới
chân đồi Vạn Hoa. Bến K15 có tên gọi đầy đủ là Bến tàu Không số Đồ Sơn. K15 là
mật danh, là ký hiệu quân sự lấy từ số của Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ
15 về đường lối và phương pháp Cách mạng miền Nam.
Từ những năm 1960, cuộc
chiến chống Mỹ của dân tộc ta đang đi vào giai đoạn vô cùng khốc liệt.
Chiến trường miền Nam cần sự chi viện lớn từ miền Bắc cả về sức người, sức của.
Những con đường tiếp tế trên bộ bị giặc quần thảo, trút bom đạn liên miên hòng
chặt đứt sự chi viện Bắc - Nam. Trước tình hình đó, ngày 23/10/1961, đoàn
759 (đoàn tàu không số) được thành lập (tiền thân của Lữ đoàn 125 vùng 5 Hải
quân hiện nay) với nhiệm vụ nặng nề và vinh quang là mở con đường vận tải chiến
lược trên biển, chi viện kịp thời cho chiến trường miền Nam. Con đường Hồ Chí
Minh trên biển được ra đời như thế. Và bến K15 là km số 0, là điểm mở đầu của
con đường biển huyền thoại ấy.
2. Bến K15 trong
những tháng năm khói lửa chiến tranh

15 trụ bê tông cốt sắt dưới bãi biển, dấu tích Bến K15 xưa
Chuyến tàu không số đầu
tiên rời bến K15 vào đêm 11/10/1962 là con tàu gỗ chở 30 tấn vũ khí, bình tĩnh,
bí mật và quyết tâm hướng ra khơi. Gọi là những chuyến tàu không số bởi những
con tàu này ngụy trang thành tàu cá, tàu buôn của người dân, không sơn số hiệu
lên thân tàu. Chuyến tàu đầu tiên vượt muôn trùng sóng gió và hiểm nguy từ phía
kẻ thù đã cập bến Vàm Lũng (Cà Mau) sau 6 ngày đêm - quãng thời gian ngắn kỷ lục
so với việc vận chuyển bằng đường bộ dưới mưa bom bão đạn.
Chiến tích đầu tiên ấy
đã mở ra cả một trang sử mới cho ngành vận tải quân đội. Con đường chi viện được
rút ngắn. Sức người, sửc của chi viện cho miền Nam được nhiều hơn, nhanh hơn và
hiệu quả hơn. Tuy nhiên, những hiểm nguy rình rập trên đường Hồ Chí Minh trên
biển không phải không căng thẳng. Mỗi chuyến tàu xuất phát đều được xác định
nếu lộ mục tiêu các chiến sỹ sẽ sẵn sàng hi sinh để bảo toàn bí mật của tuyến vận
tải này. Tinh thần “tất cả vì miền Nam” “tất cả cho tiền tuyến” sục sôi
đã tiếp thêm sức mạnh và quyết tâm cho các chiến sỹ. Xuất phát từ bến
K15, họ xác định rất có thể chuyến đi này là chuyến cuối cùng của cuộc đời,
nhưng không ai do dự. Trong giai đoạn từ 1962 đến 1975 - khi đất nước hoàn toàn
giải phóng, từ bến K15 đã có 88 chuyến tàu anh dũng ra khơi, vận chuyển được gần
5000 tấn vũ khí và hàng nghìn tấn hàng hóa khác chi viện cho chiến trường miền
Nam, góp phần làm nên ngày chiến thắng vẻ vang 30/4/1975. Bến K15 đã được công
nhận là Di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt vào năm 2024.
3. Lời gió thầm thì kể ở
Bến K15

Nhà văn Nguyễn Thị Việt Nga
Tôi quay lại Bến K15
vào một ngày đặc biệt: Đại lễ hộ quốc tiêu tai, cầu an, cầu siêu anh hùng liệt
sỹ, đồng bào tử nạn (từ ngày 29/3 đến 3/4/2026). Đại lễ do Ban Trị sự
Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành phố Hải Phòng tổ chức tại Đài tưởng niệm K15.
Không đơn thuần là một đại lễ Phật giáo trang trọng, mà đại lễ này còn là dịp để
những người hôm nay hướng về lịch sử, tri ân những người đã ngã xuống vì độc lập
dân tộc, vì cuộc sống bình an, vì những tháng ngày bình thường đang tiếp diễn.
Đồ Sơn cuối xuân tiết
trời mát mẻ. Gió từ biển thổi vào lồng lộng. Khu tưởng niệm bến K15 vừa được
khánh thành khang trang với cụm kiếm trúc nghệ thuật đài tưởng niệm, phù điêu,
mô hình tàu không số... Hương hoa ngào ngạt. Phật tử và nhân dân đổ về đông kín
khu tưởng niệm mà hàng ngày vốn khá vắng vẻ. Từ phía khơi xa, biển và gió vẫn
thầm thì kể...
Gió kể về những con người
vô danh đã ngã xuống nơi của biển này. Đồ Sơn từ xa xưa là vùng đất trọng yếu của
vùng Đông Bắc tổ quốc với cư dân quần tụ chủ yếu làm nghề ngư nghiệp và trồng cấy.
Phải đương đầu với thiên nhiên khắc nghiệt nơi biển cả để kiếm ăn, nên tín ngưỡng
của người Đồ Sơn cổ tôn sùng sức mạnh siêu nhiên. Lễ hội chọi trâu ra đời là một
hình thức hiến tế của cộng đồng dân cư với các vị thần tối linh nơi cửa biển, cầu
mong mưa thuận gió hòa, trời êm bể lặng. Đồ Sơn không chỉ là một vùng đất, vùng
biển, Đồ Sơn còn là một trong những cửa ngõ đường biển phía Bắc quan trọng của
quốc gia. Cách kinh đô Thăng Long không xa, nếu Đồ Sơn “sóng gió bất kỳ”, chắc
chắn kinh thành không bình an. Với vị trí chiến lược trọng yếu ấy, các vương
triều phong kiến đều rất quan tâm đến việc phòng thủ ở cửa biển này.
Thế kỷ thứ 11, vua Lý
Thánh Tông đã nhiều lần tuần du cửa biển Đồ Sơn. Nhận thấy vị trí trọng yếu của
nơi này trong chiến lược bảo vệ quốc gia, nhà vua đã cho xây tháp Tường Long
trên ngọn núi cao nhất của dãy cửu long Đồ Sơn là núi Long Sơn. Tọa lạc ở độ
cao 95,2m so với mực nước biển, tháp Tường Long khi ấy là một công trình đồ sộ,
uy nghi với 9 tầng tháp cao 100 thước ta (khoảng 45m) - là tòa tháp cao nhất nước
ta thời gian đó. Có nhiều giai thoại đậm chất huyền bí quanh việc việc nhà vua
cho xây tháp, nhưng chắc chắn trong tâm trí cuả ngài, việc xây một công trình
thờ Phật ở nơi cửa bể đã từng được ghi dấu là nơi Phật giáo du nhập đầu tiên
vào đất nước qua con đường biển (dấu tích còn ghi lại ở chùa Hang) chắc chắn
không chỉ để tôn vinh Phất giáo và phục vụ nhu cầu tôn giáo của muôn dân, mà ngọn
tháp linh thiêng ấy còn là công trình gắn với các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh
của đất nước.
Trong dân gian còn lưu
truyền câu chuyện khi xây xong tòa tháp, đức vua có dặn rằng, hễ nơi đây có biến
thì hãy đốt lửa nơi tháp Tường Long, từ kinh đô Thăng Long sẽ nhìn thấy khói,
như một ám hiệu để có chi viện kịp thời. Bây giờ chắc chắn từ Hà Nội không thể
nhìn thấy tháp Tường Long dẫu trời quang mây tạnh đến đâu, nhưng thuở xa xưa ấy,
đứng ở vị trí chân tháp có thể quan sát hết cả một vùng cửa bể Đông Bắc mênh
mông, dễ dàng phát hiện những dấu hiệu bất thường nếu có...
Là vùng đất phên giậu
nơi cửa biển, cuộc sống mưu sinh của người dân Đồ Sơn gặp không ít nhọc nhằn.
Biển cả thăm thẳm vừa bao dung, hào phóng nhưng cũng vừa nghiệt ngã vô cùng
trong những trận cuồng phong. Để tồn tại ở đất này, con người phải đổ biết bao
mồ hôi, và có khi cả tính mạng của mình. Có những chuyến tàu ra khơi không trở
lại. Có nhiều ngư dân đã nằm trong lòng biển lạnh. Có những gia đình lấy ngày
ra khơi của cha anh mình là ngày giỗ, bởi không biết họ ngã xuống ngày nào
trong chuyến vươn khơi gặp sóng to gió lớn bất kỳ.
Biển cả có khi tặng cho
con người biết bao tôm cá, cũng có khi trả lại cho họ những vành tang trắng đớn
đau. Nhưng những người dân Đồ Sơn vẫn âm thầm bám biển, vẫn kiên cường gây dựng
cuộc sống trong vất vả, gian nan. Trong đại lễ cầu siêu, gió từ phía đại dương
thổi về mang theo vị mặn mòi của muối biển, cũng là vị mặn mòi của bao giọt nước
mắt chia ly. Chúng ta thường nhớ tới công ơn của các anh hùng liệt sỹ ngã xuống
trong các cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Nhưng còn linh hồn, còn công ơn của
những người dân bình thường ngã xuống trong quá trình mưu sinh để nối dài sự sống,
bồi đắp cho hình hài đất nước thêm vạm vỡ, xanh tươi... cũng cần được tri ân
sâu sắc.
Tên tuổi của họ không
được ghi vào sử sách, nhưng những lớp con cháu hôm nay cần ghi nhớ trong tim.
Những người dân vô danh ấy cũng như những hạt cát bé nhỏ nơi đại dương mênh
mông. Nhưng không có họ, chúng ta không có Tổ quốc hôm nay. Gió kể về nỗi thổn
thức của những linh hồn không ngủ ấy. Từ phía khơi xa, những linh hồn ấy vẫn
dõi về đất liền quê hương yêu dấu. Đại lễ cầu siêu như một lời tri ân sâu sắc,
như sự an ủi, sẻ chia, như lời mời gọi nghĩa tình...
Gió kể về những linh hồn
các anh hùng liệt sỹ đã ra đi từ bến K15 trên các con tàu không số. Họ không
ngã xuống tại vùng biển này, mảnh đất này, vì đây là nơi con tàu rời bến đầu
tiên. Trong suốt mười mấy năm bến K15 hoạt động, chưa một lần bị lộ mục tiêu bởi
sự ngụy trang khôn khéo của các chiến sỹ, bởi biển cả và đất trời bao dung khi
vụng Sét nằm khá kín đáo ở một góc của Đồ Sơn, với dãy núi cửu long che chở.
Nhưng các chiến sĩ trước khi bước chân xuống chuyến tàu không số, đều thầm hiểu
rất có thể đó là chuyến đi cuối cùng của đời mình.
Những hiểm nguy rình rập
dọc đường gồm cả kẻ thù xâm lược điên cuồng sẵn sàng nã đạn bom vào bất cứ mục
tiêu nghi vấn nào lẫn thiên nhiên bất trắc, khó lường. Những chuyến tàu không số
ngụy trang làm tàu cá khá đơn sơ phải vượt muôn trùng sóng gió để đến với chiến
trường miền Nam. Và không ít chiến sỹ đã hi sinh. Không ít những chuyến tàu đã
không cập được bến cuối cùng. Bến K15 là bến đầu tiên, nhưng các chiến sỹ trên
con tàu không số đều ngầm coi có thể là nơi cuối cùng mình được chào tạm biệt đồng
đội trên bờ. Nhưng không ai run sợ. Không ai nản chí. Họ đều hăng hái ra đi với
lời thề “tất cả cho tiền tuyến” thiêng liêng. Những bước chân chấp nhận đi vào
nơi ranh giới sinh tử mong manh hơn sợi tóc rất dứt khoát, kiên trung. Bến K15
là nơi lưu giữ những dấu chân đẹp nhất...Những dấu chân thanh xuân kiên cường
và trung dũng. Những dấu chân của những con người hiến dâng cả đời mình cho Tổ
quốc...
Đến Đồ Sơn hôm nay, trước
khi mải mê vui đùa cùng sóng biển, chúng ta hãy nhìn Đồ Sơn từ phía khác, phía
của lòng tri ân và tưởng nhớ. Hãy đến bến K15 thắp nén tâm hương, nghe gió thầm
thì kể về những tháng ngày đã qua, về những con người bám biển bám làng, góp phần
làm nên hình hài Tổ quốc, nối dài sự sống nơi đầu sóng ngọn gió; về những người
con trung dũng vô song của đất nước, bước xuống bến K15 để mở ra con đường đi
thẳng tới độc lập tự do. Nhìn biển từ phía bến K15, thấy biển mặn mòi hơn, đẹp
đẽ hơn và sâu nặng ân tình hơn vì thế !
Bút
ký Nguyễn Thị Việt Nga
(Theo
Báo điện tử Vanvn.vn)