Từ những mái đình cổ
kính đến câu hát dân gian, di sản văn hóa đang bước vào hành trình mới trong
không gian số. Nhờ đó, ký ức văn hóa được lưu giữ, lan tỏa và khơi mở các giá
trị mới trong đời sống hiện đại.
Bối cảnh đặc biệt cho
tương lai di sản
Ngày 11/5/2026, chia sẻ
tại hội thảo Chuyển đổi số ở châu Á: Văn hóa, di sản và cơ hội,do
Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội và các đối
tác quốc tế tổ chức, các chuyên gia khẳng định, châu Á vừa là khu vực giàu chiều
sâu lịch sử, đa dạng văn hóa, vừa là một trong những không gian năng động nhất
của chuyển đổi số hiện nay. Sự gặp gỡ giữa truyền thống và công nghệ đang tạo
nên bối cảnh đặc biệt cho tương lai của di sản.
Việt Nam cũng đang
trong dòng chảy ấy, khi chuyển đổi số được xác định là động lực quan trọng cho
phát triển. Theo PGS. TS. Nguyễn Việt Khôi, Phó Hiệu trưởng Trường Khoa học
liên ngành và Nghệ thuật, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, thực tế ảo, thực tế
tăng cường đang tác động trực tiếp đến cách con người lưu giữ ký ức, sản xuất
tri thức, sáng tạo và tiếp cận văn hóa, cũng như trải nghiệm di sản. Các giá trị
văn hóa hiện nay không chỉ hiện diện trong không gian vật chất di tích, bảo
tàng, thư viện, cộng đồng địa phương mà còn được số hóa, tái hiện, kết nối,
chia sẻ, trải nghiệm và tương tác trong không gian số.

Nhiều giá trị xưa được số hóa, tái hiện, trải nghiệm và tương tác trong không gian số
Trong bối cảnh nhiều
công trình lịch sử tại Việt Nam chịu áp lực xuống cấp bởi thời tiết, đô thị hóa
và khai thác du lịch, số hóa trở thành một dạng “bảo tồn dự phòng”. Nếu một hiện
vật bị hư hại hoặc một công trình biến mất, dữ liệu số vẫn có thể lưu giữ cấu
trúc, hình dạng và thông tin lịch sử của nó. Không chỉ lưu giữ, công nghệ còn mở
ra cơ hội đưa di sản bước vào đời sống đương đại theo cách gần gũi hơn với công
chúng, đặc biệt là giới trẻ. Những tour tham quan ảo, trưng bày mang tính tương
tác, kho dữ liệu mở... giúp quá khứ trở nên trực quan sinh động hơn thay vì chỉ
tồn tại trong sách vở hay các không gian trưng bày tĩnh.
PGS. TS. Nguyễn Việt
Khôi cho rằng, việc giá trị di sản bước vào không gian số cũng mở ra nhiều cơ hội
cho giáo dục di sản, bảo tàng số, du lịch thông minh, đặc biệt là công nghiệp
văn hóa sáng tạo. Theo một số nghiên cứu, quy mô ngành công nghiệp văn hóa sáng
tạo Việt Nam được dự báo sẽ vượt 2,6 tỷ USD vào năm 2026. Với dân số trẻ và tỷ
lệ sử dụng internet cao, Việt Nam có cơ hội "đi tắt đón đầu", đi thẳng
vào kinh tế sáng tạo toàn cầu mà không cần trải qua giai đoạn công nghiệp truyền
thống.
"Lợi thế lớn nhất
của Việt Nam chính là bản sắc văn hóa và kho tàng di sản phong phú. Khi được kết
hợp với công nghệ và tư duy sáng tạo hiện đại, bản sắc Việt hoàn toàn có thể trở
thành giá trị cạnh tranh trong thị trường nội dung số toàn cầu", PGS. TS.
Nguyễn Việt Khôi nói.
Kết hợp nghiên cứu,
công nghệ và sáng tạo
Nhiều bảo tàng trong nước
đã đẩy mạnh chuyển đổi số như Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Bảo tàng Hồ Chí Minh,
Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam hay Di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội... Nhiều
không gian trưng bày số, triển lãm trực tuyến, triển lãm kết hợp công nghệ 3D
mapping, cinemagraph... giúp công chúng tiếp cận di sản không giới hạn về không
gian và thời gian. Đồng thời, nhiều ứng dụng công nghệ cũng được triển khai nhằm
gia tăng trải nghiệm cho khách tham quan.
Ở cấp độ địa phương, hầu
hết tỉnh, thành phố đã triển khai số hóa di tích, cổ vật, tư liệu và dữ liệu
hình ảnh, video; từng bước xây dựng tour tham quan 360 độ, trưng bày số và bảo
tàng ảo. Việc số hóa không chỉ phục vụ trải nghiệm mà còn đóng vai trò quan trọng
trong công tác bảo tồn di sản.
Tuy nhiên, chất lượng số
hóa hiện chưa đồng đều; nhiều cơ sở dữ liệu còn rời rạc, thiếu liên thông và
chưa được chuẩn hóa. Khoảng cách công nghệ cũng tạo sự chênh lệch giữa các vùng
miền. Cùng với đó, câu chuyện bản quyền và chủ quyền dữ liệu văn hóa ngày càng
trở nên phức tạp...
PGS. TS. Nguyễn Việt
Khôi liệt kê một loạt cái "thiếu": thiếu hệ sinh thái hoàn chỉnh cho
công nghiệp sáng tạo; thiếu sự liên kết giữa nghệ thuật, công nghệ và kinh
doanh; thiếu quỹ hỗ trợ dự án sáng tạo; thiếu những người vừa am hiểu sáng tạo,
vừa có năng lực công nghệ, trong khi giáo dục hiện vẫn tách rời kỹ thuật và nghệ
thuật. Nội dung văn hóa Việt được phân phối rộng rãi, nhưng lại đang phụ thuộc
vào các nền tảng từ nước ngoài...
Xác định chuyển đổi số
là xu thế tất yếu, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về
phát triển văn hóa Việt Nam nhấn mạnh yêu cầu phát triển khoa học - công nghệ,
đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số nhằm tạo dựng “không gian mới, xung lực mới”
cho phát triển văn hóa. Theo đó, chuẩn hóa và số hóa toàn diện di sản văn hóa vật
thể và phi vật thể; quản trị dữ liệu bảo đảm an ninh và chủ quyền văn hóa số.
Quyết định số
611/QĐ-TTg ngày 4/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ về Đề án chuyển đổi số trong
lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn 2045 xác định "lấy dữ liệu và công
nghệ số làm nền tảng, chuyển tri thức bản địa, văn hóa thành nguồn lực mới cho
phát triển, mở rộng khả năng bảo tồn, lan tỏa di sản văn hóa và nâng cao chất
lượng trải nghiệm văn hóa của người dân”. Đề án đặt ra hàng loạt nhiệm vụ như
xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về di sản văn hóa, chuẩn hóa dữ liệu, đào tạo
nhân lực và mở rộng hợp tác quốc tế...
ThS. Nguyễn Thế Sơn, giảng
viên Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật nhấn mạnh, di sản hoàn toàn có thể
trở thành nguồn lực kinh tế nếu được đặt trong môi trường số. Khi kết hợp với
công nghệ và các phương thức kể chuyện mới, di sản không chỉ được bảo tồn mà
còn có thể trở thành một phần năng động của công nghiệp sáng tạo.
Theo các chuyên gia,
công nghệ chỉ nên là phương tiện truyền tải, nếu thiếu chiều sâu văn hóa và nền
tảng học thuật, di sản rất dễ trở thành sản phẩm nghe nhìn đơn thuần. Vì thế, lời
giải quan trọng nằm ở tư duy liên ngành: kết hợp nghiên cứu, công nghệ và sáng
tạo; phát huy giá trị gắn liền giữ gìn “linh hồn” của di sản từ cộng đồng. Khi
đó, các giá trị xưa không chỉ là ký ức của quá khứ mà còn trở thành kho báu cho
công nghiệp văn hóa sáng tạo, đưa bản sắc Việt vươn ra toàn cầu./.
(Theo
Báo Đại biểu nhân dân điện tử)