Văn hóa vừa tạo ra hệ
giá trị, niềm tin xã hội, tinh thần đoàn kết, lòng yêu nước và khát vọng vươn
lên; vừa trực tiếp tạo ra sản phẩm, doanh thu, việc làm, xuất khẩu và tài sản
trí tuệ thông qua công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo. Muốn đi nhanh mà vẫn
đi xa, tăng trưởng hai con số càng cần một sức bật mạnh mẽ từ văn hóa.
Văn hóa tạo “nền móng
vô hình” của tăng trưởng
Khi nói đến tăng trưởng
kinh tế, chúng ta thường nghĩ trước hết đến đầu tư, hạ tầng, công nghệ, tín dụng,
thị trường hay năng suất lao động. Nhưng phía sau mọi con số vẫn là con người.
Tăng trưởng kinh tế ở tầng sâu luôn là câu chuyện của văn hóa phát triển.
Văn hóa trước hết định
hình hệ giá trị. Một nền kinh tế hiện đại cần những con người coi trọng lao động,
sáng tạo, trách nhiệm, chữ tín, thượng tôn pháp luật và tinh thần cống hiến.
Khi trung thực trở thành chuẩn mực, chi phí của sự nghi ngờ giảm xuống; khi chữ
tín được coi trọng, giao dịch thuận lợi hơn; khi tinh thần trách nhiệm phổ biến,
hiệu quả của bộ máy và doanh nghiệp được nâng lên; khi xã hội tôn vinh tài năng
và thành công chính đáng, người trẻ có thêm động lực học hỏi, khởi nghiệp, đổi
mới. Đây là những tác động khó tách riêng thành một chỉ số GDP, nhưng ảnh hưởng
trực tiếp đến năng suất, chất lượng quản trị và sức cạnh tranh.

Văn hóa còn tạo dựng niềm
tin xã hội - một loại vốn đặc biệt của phát triển. Những cải cách lớn đòi hỏi sự
chia sẻ, đồng thuận và hợp tác của nhiều chủ thể. Khi người dân tin vào thể chế,
doanh nghiệp tin vào môi trường kinh doanh và các cộng đồng tin nhau, nguồn lực
xã hội được huy động nhanh hơn. Tăng trưởng hai con số vì thế không chỉ cần tốc
độ của vốn, mà còn cần tốc độ của niềm tin.
Trong lịch sử Việt Nam,
sức mạnh văn hóa nhiều lần kết tinh thành lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý
chí tự lực, tự cường. Trong phát triển hôm nay, lòng yêu nước có thể biểu hiện
bằng khát vọng làm ra sản phẩm Việt Nam có chất lượng, xây dựng thương hiệu Việt
có uy tín và làm tốt nhất công việc của mình. Tinh thần đoàn kết cần được chuyển
hóa thành năng lực hợp tác để hình thành những hệ sinh thái phát triển mới.
Tại Phiên họp thứ hai
Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam ngày 13/7/2026, Tổng Bí
thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: "Chính sức sống bền bỉ của văn hóa đã
gìn giữ sức sống của dân tộc". Trong một thế giới biến động nhanh, sức bền
của nền kinh tế không thể tách rời sức bền của hệ giá trị, bản sắc và niềm tin
xã hội. Nghị quyết số 80-NQ/TW cũng xác định phát triển văn hóa, con người là nền
tảng, nguồn lực nội sinh, động lực và trụ cột của phát triển nhanh, bền vững.
Điều quan trọng là làm cho các giá trị tốt đẹp đi vào hành vi kinh tế, đạo đức
công vụ, văn hóa doanh nghiệp, đổi mới sáng tạo và quản trị quốc gia. Văn hóa
giúp tốc độ phát triển đi cùng, đúng hướng, để sự giàu có vật chất không tách rời
sự giàu có về tinh thần.
Từ vốn văn hóa đến sức
sản xuất mới của nền kinh tế
Bên cạnh đóng góp tinh
thần, văn hóa ngày nay đã trở thành một khu vực kinh tế có thể đo bằng doanh
thu, giá trị gia tăng, việc làm, xuất khẩu và tài sản trí tuệ. Một bộ phim, trò
chơi điện tử, bản thiết kế, chương trình biểu diễn, tour di sản hay nội dung số
thành công đều có thể tạo ra chuỗi giá trị kéo theo du lịch, bán lẻ, công nghệ
và thương mại điện tử.

Đại nội Huế - địa điểm thu hút du khách trong nước và quốc tế đến tham quan, góp phần phát triển du lịch văn hóa
Nhìn ra thế giới, xu hướng
này rất rõ. Báo cáo Creative Economy Outlook 2024 của UNCTAD cho thấy, ở các quốc
gia được khảo sát, kinh tế sáng tạo đóng góp từ 0,5% đến 7,3% GDP và sử dụng từ
0,5% đến 12,5% lực lượng lao động. Xuất khẩu dịch vụ sáng tạo toàn cầu đạt khoảng
1.400 tỷ USD năm 2022, tăng 29% so với năm 2017; xuất khẩu hàng hóa sáng tạo đạt
khoảng 713 tỷ USD. Sáng tạo, vì thế, đã trở thành một bộ phận thực sự của
thương mại và năng lực cạnh tranh toàn cầu.
Việt Nam sở hữu kho
tàng văn hóa đặc biệt giàu có, từ di tích, di sản, lịch sử dựng nước - giữ nước
đến ẩm thực, âm nhạc, mỹ thuật, thủ công, lễ hội và sự đa dạng của các vùng miền.
Vấn đề là khả năng chuyển chất liệu thành tài sản trí tuệ, sản phẩm sáng tạo,
thương hiệu và thị trường còn chưa tương xứng.
Những năm gần đây đã xuất
hiện nhiều tín hiệu tích cực. Các tour đêm tại Nhà tù Hỏa Lò, Văn Miếu - Quốc Tử
Giám cho thấy khi di sản được kể lại bằng công nghệ và thiết kế trải nghiệm,
giá trị văn hóa có thể tạo ra giá trị kinh tế mới. Nhiều chương trình biểu diễn,
lễ hội, sản phẩm thiết kế, điện ảnh, trò chơi và nội dung số cũng cho thấy thị
trường đang mở rộng; nhiều địa phương đã gắn di sản với du lịch, ẩm thực, làng
nghề và kinh tế ban đêm.
Theo số liệu được công
bố, năm 2022 các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đóng góp khoảng 4,04% GDP.
Nghị quyết 80 đặt mục tiêu 7% GDP vào năm 2030 và 9% vào năm 2045. Khoảng cách
từ khoảng 4% lên 7% đòi hỏi một chuyển đổi về chất: từ khai thác tài nguyên văn
hóa sang tạo tài sản trí tuệ; từ sự kiện sang thương hiệu; từ sản phẩm đơn lẻ
sang hệ sinh thái; từ thị trường trong nước sang thị trường toàn cầu.
Sức mạnh đặc biệt của
công nghiệp văn hóa là đầu vào quan trọng nhất không phải tài nguyên hữu hạn,
mà là tài năng, tri thức, câu chuyện, công nghệ và sáng tạo. Một tài sản trí tuệ
tốt có thể được khai thác nhiều lần trên nhiều nền tảng, tạo giá trị gia tăng
cao và phù hợp với yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng.

Một tiết mục biểu diễn múa rối nước của các nghệ sỹ Việt Nam
Để văn hóa thực sự trở
thành động lực tăng trưởng mới
Muốn văn hóa đóng góp xứng
đáng vào mục tiêu tăng trưởng hai con số, trước hết cần thay đổi cách đo
lường và nhìn nhận đóng góp của văn hóa. Nếu chỉ tính doanh thu hay giá trị gia
tăng trực tiếp, chúng ta sẽ đánh giá thấp vai trò của văn hóa. Cần tính cả hiệu
ứng lan tỏa đối với du lịch, thương mại, kinh tế đêm, công nghệ và quảng bá quốc
gia, cùng những giá trị vô hình như niềm tin xã hội, năng lực sáng tạo và sức mạnh
mềm.
Thứ hai, cần coi tài nguyên văn
hóa là một loại tài sản phát triển đặc biệt và tổ chức khai thác theo chuỗi giá
trị. Số hóa di sản không nên dừng ở lưu trữ. Dữ liệu văn hóa phải trở thành
nguyên liệu cho giáo dục, thiết kế, điện ảnh, trò chơi, trí tuệ nhân tạo và các
sản phẩm sáng tạo. Mỗi di sản hay câu chuyện lịch sử đều có thể là điểm khởi đầu
của một hệ sinh thái nếu có bản quyền rõ ràng, công nghệ phù hợp và doanh nghiệp
biết tổ chức thị trường.
Thứ ba, phải hình thành hệ
sinh thái công nghiệp văn hóa đúng nghĩa. Nhà nước cần hoàn thiện thể chế, bảo
vệ sở hữu trí tuệ, tạo dữ liệu và hạ tầng dùng chung, phát triển không gian
sáng tạo, hỗ trợ vốn, nhân lực và mở rộng thị trường quốc tế. Doanh nghiệp tổ
chức sản xuất và thương mại hóa; nghệ sĩ, người sáng tạo tạo giá trị; trường đại
học, viện nghiên cứu cung cấp tri thức; nền tảng số mở rộng phân phối.
Đặc biệt, cần thay đổi tư duy về
quy mô. Không thể kỳ vọng đóng góp 7% GDP nếu phần lớn doanh nghiệp sáng tạo vẫn
nhỏ, phân tán, thiếu vốn và khó tiếp cận thị trường quốc tế. Việt Nam cần những
doanh nghiệp văn hóa đủ mạnh, những IP Việt Nam có khả năng sống lâu dài và các
thương hiệu sáng tạo có thể cạnh tranh khu vực. Điều đó đòi hỏi chính sách khuyến
khích đầu tư tư nhân, quỹ sáng tạo, đặt hàng, hợp tác công - tư và bảo hộ bản
quyền đủ hiệu lực.

Chương trình nghệ thuật “Chuyến tàu huyền thoại” là một vở đại nhạc kịch ngoài trời lần đầu tiên được tổ chức trên sông Sài Gòn
Mỗi địa phương cũng cần
tìm đúng lợi thế văn hóa của mình thay vì chạy theo cùng một mô hình. Hà Nội có
thể phát huy di sản, thiết kế và nội dung số; Huế có lợi thế về di sản, lễ hội,
âm nhạc, ẩm thực; Thành phố Hồ Chí Minh có thị trường, công nghệ, điện ảnh và hệ
sinh thái doanh nghiệp. Khi mỗi nơi tạo ra sản phẩm khác biệt và liên kết được
với nhau, văn hóa có thể góp phần hình thành những cực tăng trưởng mới.
Cuối cùng, điều quan trọng nhất vẫn
là con người. Công nghiệp văn hóa không thể phát triển nếu thiếu nhà sáng tạo,
nhà sản xuất, chuyên gia bản quyền, công nghệ và marketing. Cũng không thể có nền
kinh tế sáng tạo mạnh nếu xã hội không tôn trọng khác biệt, không khuyến khích
thử nghiệm và không tạo điều kiện cho tài năng cống hiến. Đầu tư cho văn hóa,
vì thế, cuối cùng vẫn là đầu tư cho con người.
Tăng trưởng hai con số
là mục tiêu kinh tế, nhưng con đường đi tới mục tiêu ấy còn phải được tạo nên bởi
niềm tin, khát vọng, kỷ cương, sáng tạo và bản lĩnh văn hóa. Khi sức mạnh tinh
thần và sức mạnh kinh tế gặp nhau, văn hóa sẽ thực sự trở thành một trong những
động lực tạo nên bước bứt phá của đất nước trong kỷ nguyên mới./.
(Theo
Báo điện tử Đại biểu Nhân dân)