Nghị quyết số 20/2006/NQ-HĐND về đẩy mạnh phát triển du lịch giai đoạn 2006 - 2010, định hướng đến 2020

Hội đồng nhân dân thành phố Hải Phòng khoá XIII kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 15/12/2006
Nghị quyết số 20/2006/NQ-HĐND về đẩy mạnh phát triển du lịch giai đoạn 2006 - 2010, định hướng đến 2020

Hội đồng nhân dân thành phố Hải Phòng khoá XIII kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 15/12/2006

Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003; Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân năm 2004;

Căn cứ Luật Du lịch và các văn bản pháp luật khác có liên quan;

Sau khi xem xét Đề án và Tờ trình số 54/TTr-UBND ngày 05/12/2006 của Uỷ ban nhân dân thành phố về Đẩy mạnh phát triển du lịch giai đoạn 2006 - 2010, định hướng đến 2020; Báo cáo Thẩm tra của Ban Kinh tế và Ngân sách Hội đồng nhân dân thành phố, Hội đồng nhân dân thành phố thảo luận,

 

QUYẾT NGHỊ:

Điều 1. Về tình hình phát triển du lịch giai đoạn 1996 - 2005

Hội đồng nhân dân thành phố cơ bản tán thành nội dung đánh giá tình hình phát triển du lịch thành phố giai đoạn 1996 - 2005 tại Đề án của Uỷ ban nhân dân thành phố; đồng thời nhấn mạnh một số vấn đề sau:

Những năm qua, Du lịch thành phố đã có bước phát triển khá toàn diện, đã tích cực khai thác và phát huy các lợi thế, tiềm năng du lịch của thành phố. Công tác quản lý nhà nước về du lịch đã đi vào nền nếp, có tiến bộ trong việc quy hoạch phát triển, tuyên truyền, quảng bá - xúc tiến, đào tạo nhân lực du lịch, cơ sở vật chất, hạ tầng du lịch được quan tâm cải tạo, nâng cấp, thu hút nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước, tham gia đầu tư kinh doanh, làm tăng sức hấp dẫn cho hoạt động du lịch thành phố. Số lượng khách và doanh thu du lịch ngày càng tăng. Tổ chức tốt các lễ hội truyền thống, các hoạt động du lịch lớn, tạo nên nét mới, điểm nhấn trong hoạt động du lịch thành phố.

Tuy nhiên, sự phát triển du lịch Hải Phòng còn nhiều hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của thành phố. Quy hoạch chi tiết phát triển du lịch, xác định loại hình, qui mô, trọng điểm chưa rõ, tỷ trọng trong cơ cấu kinh tế thành phố và du lịch cả nước thấp, còn thất thu ngân sách; chất lượng các dịch vụ du lịch, đầu tư phát triển du lịch còn nhiều hạn chế, chưa quan tâm đầy đủ đến bảo vệ môi trường, cảnh quan thiên nhiên. Sản phẩm du lịch chưa đa dạng, chất lượng thấp; lao động du lịch thiếu tính chuyên nghiệp. Xã hội hóa hoạt động du lịch, sức cạnh tranh của doanh nghiệp du lịch còn yếu.

Những hạn chế trên do nhiều nguyên nhân, song nguyên nhân chủ quan là chính: Nhận thức về phát triển du lịch của các cấp, các ngành chưa thật đầy đủ; thiếu cơ chế khuyến khích đầu tư phát triển và giải pháp mang tính đột phá cho phát triển du lịch; tranh thủ sự hỗ trợ của Trung ương hạn chế; chưa làm tốt công tác phối hợp phát huy sức mạnh của các ngành, các cấp, các thành phần kinh tế và các địa phương trong phát triển du lịch.

Điều 2. Quan điểm, mục tiêu phát triển du lịch giai đoạn 2006 - 2010, định hướng đến 2020

1. Quan điểm phát triển du lịch: Khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế của thành phố, nhất là về cảnh quan thiên nhiên, tài nguyên nhân văn, đảm bảo môi trường sinh thái, đa dạng các loại hình và sản phẩm du lịch, thu hút đầu tư, tăng nhanh tỷ trọng du lịch trong tổng GDP của thành phố; tạo việc làm, nâng cao dân trí; giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc và đặc thù văn hoá địa phương, phát huy sức mạnh tổng hợp của các cấp, ngành và toàn dân phát triển du lịch, góp phần thúc đẩy chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế theo hướng CNH - HĐH.

2. Mục tiêu: Từng bước xây dựng Hải Phòng trở thành một trong những cửa ngõ đón khách quốc tế, trung tâm du lịch của vùng Duyên hải Bắc Bộ; đảo Cát Bà, Đồ Sơn cùng với Hạ Long trở thành một trong những trung tâm du lịch quốc tế. Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố. Trước mắt, tập trung xây dựng Cát Bà, Đồ Sơn, Kiến Thụy, Thuỷ Nguyên thành trung tâm du lịch cấp quốc gia.

3. Chỉ tiêu cơ bản đến năm 2010: Đón và phục vụ trên 5,6 triệu lượt khách, tăng bình quân trên 18,5%/năm, trong đó khách du lịch quốc tế trên 1,3 triệu lượt chiếm 24%, tăng bình quân 20,5%/năm; tỷ trọng GDP du lịch đạt 4,5% trong tổng GDP của thành phố; tốc độ tăng về doanh thu du lịch bình quân 19%/năm.

Điều 3. Nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu đẩy mạnh phát triển du lịch giai đoạn 2006 - 2010, định hướng đến 2020

1. Nhiệm vụ:

a) Tập trung chỉ đạo hoàn thành rà soát, điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch thành phố, phù hợp với Quy hoạch Tổng thể quốc gia về du lịch. Năm 2007 - 2008, hoàn thành Quy hoạch chi tiết phát triển du lịch Cát Bà, Đồ Sơn - lưu vực sông Đa Độ; công viên rừng Thiên Văn Núi Voi, hồ Sông Giá, di tích Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Dương kinh nhà Mạc, Tháp Tường Long, triển khai quy hoạch phát triển du lịch nội thành. Quy hoạch chi tiết các khu, điểm dịch vụ, hệ thống cửa hàng mua sắm phục vụ du khách; mời các tổ chức tư vấn trong, ngoài nước có năng lực  xây dựng quy hoạch, thiết kế các khu du lịch.

b) Chuẩn bị tốt các dự án đề xuất với Trung ương đầu tư một số cơ cở hạ tầng du lịch quy mô lớn;  bố trí vốn hỗ trợ đầu tư hạ tầng có mục tiêu của Trung ương theo đúng quy hoạch của ngành Du lịch đã phê duyệt; đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, khai thác có hiệu quả nguồn vốn đầu tư; hàng năm thành phố ưu tiên bố trí vốn ngân sách để lập quy hoạch chi tiết và chuẩn bị đầu tư cho các dự án du lịch, kết hợp đầu tư, tôn tạo phục dựng các di tích lịch sử, công trình văn hoá, đầu tư đồng bộ về đường, điện, cấp thoát nước, thoát và xử lý nước thải trong các khu du lịch; dành quỹ đất hợp lý cho khuôn viên cây xanh, đường nội bộ, bãi đỗ xe, vệ sinh công cộng ở các trọng điểm du lịch. Đẩy mạnh thực hiện xã hội hoá để tăng nguồn lực đầu tư cho phát triển du lịch.

Triển khai đề án xây dựng cảng du lịch nội địa và quốc tế; xây dựng cầu cảng du lịch tại đảo Dáu; phối hợp tốt với các bộ, ngành Trung ương đẩy nhanh tiến độ đầu tư nâng cấp sân bay Cát Bi theo tiêu chuẩn quốc tế; đưa vào sử dụng Dự án Trường Trung học Nghiệp vụ du lịch Hải Phòng và Trung tâm hỗ trợ giới thiệu sản phẩm làng nghề - quảng bá và xúc tiến du lịch.

c) Phát triển thị trường khách du lịch trong nước và quốc tế, nhất là Trung Quốc, các nước Đông Nam á, mở rộng thị trường du lịch Đông á - Thái Bình Dương, Tây Âu, Bắc Mỹ; Nhật Bản, Hàn Quốc và phấn đấu vươn tới thị trường Nga, Đông Âu, Bắc Âu, úc, Niu-di-lân...

d) Lựa chọn loại hình du lịch chủ yếu nhằm phát huy có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân văn và những lợi thế của thành phố như:

- Du lịch sinh thái biển kết hợp nghỉ dưỡng, thể thao, hội thảo - hội nghị - hội chợ và du lịch mạo hiểm;

- Du lịch lễ hội, thăm các di tích lịch sử, văn hoá, khảo cứu văn hoá truyền thống, đặc thù địa phương;

- Du lịch điền dã, khảo cứu văn hoá làng xã, thưởng ngoạn miệt vườn ven sông.

- Du lịch văn hoá ẩm thực, mua sắm.

- Du lịch tâm linh.

Hình thành tua, tuyến du lịch phù hợp, hấp dẫn, chất lượng cao; các điểm vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng, thể thao; các loại hình dịch vụ đặc sắc tại các trọng điểm du lịch; nghiên cứu, sản xuất  hàng lưu niệm đặc trưng của Hải Phòng; tổ chức tốt việc giới thiệu, dịch vụ hàng lưu niệm cho khách.  Phát huy và tổ chức tốt Lễ hội chọi trâu Đồ Sơn trở thành loại hình dịch vụ du lịch đặc sắc.

đ) Đào tạo, nâng cao chất lượng nhân lực du lịch đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch, chú trọng lao động quản lý hoạt động kinh doanh. Phấn đấu đến năm 2010 số lượng lao động du lịch và dịch vụ du lịch đạt 32.000 người, trong đó 50%  qua đào tạo.

e) Xây dựng thương hiệu du lịch Hải Phòng đủ sức cạnh tranh trong khu vực và quốc tế. Tăng cường quản lý, bảo tồn, quảng bá, phát huy Khu Dự trữ sinh quyển thế giới quần đảo Cát Bà; các khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, thể thao và khách sạn cao cấp đạt tiêu chuẩn quốc tế, có nhiều loại hình dịch vụ tiện lợi và hấp dẫn du khách. Hoàn thành Đề án thành lập các Khu Du lịch quốc gia của thành phố trong năm 2007 - 2008. Phấn đấu mỗi ngành, địa phương đều có sản phẩm, dịch vụ du lịch chất lượng cao; chú trọng các sản phẩm du lịch đặc sắc của Hải Phòng.

2. Giải pháp chủ yếu:

a) Chỉ đạo đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp, các ngành và nhân dân về phát triển du lịch, về vị trí, vai trò của kinh tế du lịch trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.

b) Xây dựng cơ chế ưu đãi, hỗ trợ đầu tư phát triển du lịch đồng bộ, toàn diện phù hợp chính sách và cam kết của nhà nước về du lịch với Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), về đào tạo lại, đào tạo mới nhân lực du lịch, đầu tư hạ tầng. Có cơ chế ưu tiên đối với các dự án vui chơi giải trí, dự án có quy mô lớn, đầu tư phát triển phương tiện vận chuyển khách du lịch, đặc biệt là đội tầu du lịch ở Cát Bà; chế tác và sản xuất các sản phẩm, hàng lưu niệm mang đặc trưng Hải Phòng, cơ chế thu hút nhân tài phục vụ du lịch địa phương. Năm 2007, hoàn thành xây dựng tiêu chuẩn cơ sở dịch vụ du lịch và quy chế thẩm định, công nhận cơ cở đủ tiêu chuẩn dịch vụ du lịch trên địa bàn thành phố; xây dựng quy chế đảm bảo an toàn cho du khách; nghiên cứu sớm có cảnh sát du lịch. Trước mắt, báo cáo Trung ương cho phép triển khai thực hiện thí điểm tại các trọng điểm du lịch: Cát Bà, Đồ Sơn và nội thành.

c) Tổ chức đào tạo nhân lực du lịch theo chuẩn quốc gia ở các hệ: Dạy nghề, trung cấp, tiến tới đào tạo cao đẳng, tương đương đại học và đại học. Tổ chức nghiên cứu khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng, áp dụng công nghệ tiên tiến trong  đào tạo. Trước mắt tập trung đào tạo để có đủ hướng dẫn viên, thuyết minh viên thạo nghề, được trang bị kiến thức, hiểu biết toàn diện và có trình độ ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu phục vụ khách du lịch trong nước và quốc tế.

Thường xuyên mở lớp tập huấn về Luật Du lịch và các văn bản có liên quan, quán triệt các chế độ chính sách của Đảng và nhà nước cho giám đốc doanh nghiệp, người quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch.

d) Tổ chức xúc tiến - quảng bá du lịch: Nâng cao chất lượng các tuyến du lịch hiện có, mở thêm tuyến du lịch sinh thái biển Hải Phòng - Bạch Long Vĩ. Phối hợp với các tỉnh, thành phố trong và ngoài nước, thực hiện nối tuyến du lịch địa phương với tuyến du lịch quốc gia và quốc tế: Chú trọng tuyến đường bộ Hải Phòng - Côn Minh, Hải Phòng - Nam Ninh (Trung Quốc); Hải Phòng - Nghệ An - Lào - Thái Lan. Mở tuyến đường thủy Hải Phòng đi các cảng biển quốc tế trong khu vực.

Đầu tư kinh phí, xúc tiến mở các tuyến bay quốc tế mới từ Hải Phòng đến các sân bay quốc tế trong khu vực: Nam Ninh, Hải Nam (Trung Quốc); Băng Cốc, Pattaya (Thái Lan); Busan (Hàn Quốc); tăng cường xúc tiến thị trường khách trong nước tạo nguồn khách đối ứng, nâng cao hiệu quả tuyến bay Hồng Kông - Ma Cao - Hải Phòng. Lập Đề án hình thành Chợ đêm tại khu vực ven hồ Cung Văn hóa thể thao Thanh niên.

Thành phố tăng chi ngân sách cho quảng bá - xúc tiến du lịch, thành lập các trung tâm thông tin du lịch, thực hiện quảng bá với quy mô lớn, chất lượng cao, tổ chức lễ hội quảng bá hàng năm, lễ hội du lịch quốc gia, quốc tế giới thiệu hình ảnh Hải Phòng với du khách trong và ngoài nước. Gắn du lịch với văn hoá, tạo sức hấp dẫn của các điểm du lịch, tua, tuyến du lịch bằng các sản phẩm du lịch đặc sắc của Hải Phòng; xây dựng nếp sống văn minh, tạo phong cách, vẻ đẹp của người Hải Phòng và môi trường du lịch văn minh, hấp dẫn của thành phố. Kiên quyết xóa bỏ tình trạng chèo kéo khách, chạy theo khách bán hàng, xin ăn ở các trọng điểm du lịch. 

đ) Các ngành, các cấp có biện pháp hữu hiệu quản lý xây dựng và kinh doanh bảo vệ tài nguyên môi trường du lịch, chú trọng xử lý nước thải và chất thải ở các điểm du lịch, khu du lịch. Đồng thời yêu cầu các doanh nghiệp thực hiện cam kết bảo vệ môi trường.

            Tăng cường phối hợp giữa các ngành, các cấp, tuyên truyền giáo dục, khuyến khích cộng đồng dân cư và khách du lịch tham gia bảo vệ tài nguyên môi trường, từng bước đưa nội dung bảo vệ tài nguyên môi trường vào chương trình giáo dục trong các trường học góp phần giữ gìn thành phố xanh, sạch, đẹpppp.

Mở rộng quan hệ quốc tế về bảo vệ tài nguyên môi trường du lịch; thực hành nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, nhanh chóng nâng cao chất lượng môi trường du lịch.

e) Tăng cường quản lý nhà nước về du lịch:

Nâng cao chất lượng cán bộ, củng cố và kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về du lịch của thành phố nhất là các địa phương trọng điểm du lịch, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phát triển du lịch trong tình hình mới. Tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm các vi phạm trong quá trình thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch, các hoạt động dịch vụ du lịch; gắn phát triển du lịch với đảm bảo quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội.

Phát huy vai trò của Hiệp hội Du lịch và các tổ chức xã hội góp phần đẩy mạnh hoạt động kinh doanh du lịch.

Điều 4. Tổ chức thực hiện

Giao cho Uỷ ban nhân dân thành phố tiếp thu ý kiến của các vị đại biểu, các Ban của Hội đồng nhân dân thành phố xây dựng các chương trình, kế hoạch cụ thể và chỉ đạo các ngành, các cấp tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết, định kỳ sơ kết, tổng kết và báo cáo tại các kỳ họp của Hội đồng nhân dân thành phố.

            Giao cho Thường trực Hội đồng nhân dân thành phố, các Ban của Hội đồng nhân dân và các đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố kiểm tra, đôn đốc, giám sát việc thực hiện Nghị quyết.

            Nghị quyết này đã được Hội đồng nhân dân thành phố Hải Phòng, khoá XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 15 tháng 12 năm 2006./.

Tin mới nhất
Thống kê truy cập
  • Đang online: 34
  • Hôm nay: 699
  • Trong tuần: 30269
  • Tất cả: 6441663
Cổng thông tin điện tử Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân thành phố Hải Phòng
Địa chỉ: Tòa nhà A Trung tâm Chính trị - Hành chính thành phố, phường Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng
Điện thoại: 08031215 - 08031194 | Fax: 08031297