Việc một quy định sau
đó bị kết luận chưa phù hợp pháp luật nhưng từng được dùng làm căn cứ xử lý sai
phạm đang đặt ra vấn đề về trách nhiệm của cơ quan ban hành và hệ lụy pháp lý
phát sinh.
Quy định tại Quyết định
22/2013 của UBND thành phố Hà Nội về dạy thêm, học thêm từng được sử
dụng làm căn cứ xác định sai phạm trong vụ cựu Hiệu trưởng Trường THCS Ba Đình (thành phố Hà Nội) thu tiền dạy thêm. Theo cáo trạng, bà Nguyễn Thị
Bình, bị truy tố về tội "Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi
hành công vụ" và bị tòa sơ thẩm tuyên phạt 3 năm tù. Tuy nhiên,
ngày 4/5/2026, Bộ Tư pháp đưa ra kết luận nêu quy định tại Quyết định 22/2013 của UBND thành phố Hà Nội ban hành "không đúng hình thức, thẩm quyền".
Sau Quyết định 22 của UBND thành phố, Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội tiếp tục ban hành văn bản
hướng dẫn với nội dung áp mức thu tối đa tương tự. Theo Bộ Tư pháp, các quy định
này được ban hành "không đúng hình thức, thẩm quyền".
Thông tư 17 của Bộ Giáo
dục và Đào tạo chỉ nêu, tiền học thêm do thỏa thuận giữa cha mẹ học sinh với
nhà trường, không quy định hoặc giao chính quyền địa phương quy định mức thu tiền
học thêm tối đa. Vì vậy, Quyết định 22 của Hà Nội áp "giá trần" là
chưa phù hợp.
Một quy định bị kết luận
ban hành "không đúng hình thức, thẩm quyền" nhưng từng được dùng làm
căn cứ xử lý sai phạm đã gây ra hệ lụy với người liên quan, đồng thời đặt ra vấn
đề về trách nhiệm của cơ quan ban hành văn bản và quá trình áp dụng quy định
trong thực tế.
Từ vụ việc trên, một số
ý kiến cũng bày tỏ băn khoăn về Công văn số 582/SGDĐT-KHTC của Sở Giáo dục và
Đào tạo Hà Nội về việc đăng ký chỉ tiêu tuyển sinh vào lớp 10 năm học
2026-2027. Trong đó, Sở nhấn mạnh: "Trường tư không được yêu cầu học sinh,
cha mẹ học sinh nộp tiền giữ chỗ, đặt cọc…”.
Trước chỉ đạo này của Sở,
Tạp chí đã ghi nhận ý kiến từ nhà đầu tư giáo dục, lãnh đạo trường tư, chuyên
gia pháp lý đều khẳng định, quy định của pháp luật không cấm trường tư thu phí
giữ chỗ, đặt cọc. Có ý kiến cho rằng nội dung chỉ đạo của Sở như trên là sự can
thiệp vào quyền tự chủ của các trường tư. Nhận thấy chỉ đạo này của Sở Giáo dục
và Đào tạo có dấu hiệu không phù hợp quy định pháp luật, vào đầu tháng 3/2026,
phóng viên Tạp chí đã gửi Giấy giới thiệu kèm câu hỏi cụ thể tới Giám đốc Sở
Giáo dục và Đào tạo Hà Nội Nguyễn Văn Hiền đề nghị thông tin làm rõ căn cứ pháp
lý của yêu cầu này và phản hồi những ý kiến của cơ sở giáo dục tư thục. Cùng với
đó, Tạp chí cũng đã gửi công văn đến lãnh đạo thành phố. Tuy nhiên, đến nay Tạp
chí chưa nhận được phản hồi.
Nhiều ý kiến đặt ra vấn
đề, trong trường hợp nếu xảy ra tranh chấp giữa phụ huynh và trường tư thục về
về khoản tiền này, có vấn đề pháp lý xảy ra thì trách nhiệm của Sở Giáo dục và
Đào tạo đến đâu?
Đừng để "văn bản
sai thì bãi bỏ, còn hậu quả để xã hội tự gánh chịu"

Trao đổi với phóng viên
Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Đại biểu Quốc hội khóa XVI Nguyễn Thị Việt
Nga - Phó Trưởng đoàn chuyên trách, Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng
cho biết, một văn bản quy phạm pháp luật nếu được ban hành chưa đúng thẩm quyền,
chưa đúng hình thức hoặc có nội dung chưa phù hợp với văn bản pháp luật cấp
trên, hệ lụy không chỉ dừng lại ở việc phải thu hồi, bãi bỏ. Nghiêm trọng hơn,
nó có thể tạo ra một chuỗi hệ quả pháp lý, quản trị và xã hội rất phức tạp.
Đối với cơ quan quản lý
nhà nước, văn bản không phù hợp có thể làm suy giảm tính nghiêm minh, thống nhất
của hệ thống pháp luật. Trong nhà nước pháp quyền, nguyên tắc căn bản là mọi hoạt
động quản lý phải được đặt trong khuôn khổ pháp luật, đúng thẩm quyền, đúng
trình tự và đúng giới hạn được pháp luật cho phép. Nếu cơ quan quản lý vì mục
tiêu quản lý thực tiễn, ban hành quy định vượt thẩm quyền, đặt thêm điều kiện,
thêm mức trần, thêm nghĩa vụ pháp luật cấp trên không giao, dù động cơ có thể
xuất phát từ yêu cầu quản lý, văn bản đó vẫn tiềm ẩn rủi ro pháp lý rất lớn.
Đặc biệt, trong lĩnh vực
giáo dục vốn có nhiều quan hệ tài chính nhạy cảm giữa nhà trường, phụ huynh
và học sinh, văn bản chưa phù hợp có thể khiến cơ sở giáo dục rơi vào thế
bị động. Nhà trường có thể "tưởng" rằng đang thực hiện đúng hướng dẫn
của cơ quan quản lý, nhưng sau này lại bị xác định là thu sai, làm sai, thậm
chí bị xem xét trách nhiệm ở mức rất nặng. Đây là rủi ro đặc biệt đáng lưu ý, bởi
ranh giới giữa vi phạm hành chính, sai sót trong quản trị tài chính và trách
nhiệm hình sự đôi khi bị đẩy đi rất xa nếu căn cứ pháp lý ban đầu không rõ
ràng.
Đối với xã hội, hệ lụy
lớn nhất là làm xói mòn niềm tin của người dân vào tính ổn định, minh bạch và dự
báo của pháp luật. Vụ việc liên quan Quyết định 22 của Hà Nội là một ví dụ đáng
suy ngẫm, khi quy định áp "giá trần" tiền học thêm bị Bộ Tư pháp xác
định là chưa phù hợp với Thông tư 17, sau đó UBND thành phố Hà Nội
đã bãi bỏ toàn bộ quyết định này.
Đại biểu Quốc hội Nguyễn
Thị Việt Nga nêu quan điểm, khi một quy định hoặc hướng dẫn quản lý bị xác định
là chưa phù hợp với pháp luật, việc xử lý không thể chỉ dừng lại ở bãi bỏ văn bản.
Bãi bỏ là cần thiết, nhưng đây mới là bước đầu tiên. Quan trọng hơn phải xem
xét đầy đủ trách nhiệm trong toàn bộ quy trình tham mưu, thẩm định, ban hành, tổ
chức thực hiện và cả việc sử dụng văn bản đó làm căn cứ xử lý tổ chức, cá nhân.
Cụ thể:
Thứ nhất, cần xác định
rõ văn bản sai ở mức độ nào: sai về hình thức, thẩm quyền, nội dung, hay sai cả
về căn cứ pháp lý và trình tự ban hành. Nếu văn bản chỉ có sai sót kỹ
thuật, trách nhiệm chủ yếu có thể là khắc phục, rút kinh nghiệm. Nhưng nếu văn
bản đặt ra quy định vượt thẩm quyền, làm phát sinh nghĩa vụ mới cho người dân,
doanh nghiệp, nhà trường hoặc được dùng làm căn cứ xử lý vi phạm, xử phạt, thậm
chí truy cứu trách nhiệm hình sự, cần phải xem xét trách nhiệm nghiêm túc hơn đối
với cơ quan và cá nhân tham mưu, ký ban hành, thẩm định, kiểm tra văn bản.
Thứ hai, cần xem xét hậu
quả thực tế văn bản đã gây ra. Trong trường hợp văn bản được dùng để xử lý sai
phạm, cơ quan có thẩm quyền cần rà soát lại các quyết định, kết luận, biện pháp
xử lý đã dựa trên văn bản đó, nhất là trường hợp làm phát sinh thiệt hại vật chất,
danh dự, uy tín, quyền nghề nghiệp hoặc trách nhiệm pháp lý nghiêm trọng cho cá
nhân, tổ chức.
Thứ ba, nếu việc ban
hành hoặc áp dụng văn bản sai gây thiệt hại phải đặt vấn đề khôi phục quyền lợi
hợp pháp cho người bị ảnh hưởng theo quy định pháp luật. Trường hợp có dấu hiệu
thiếu trách nhiệm, cố ý làm trái, ban hành văn bản vượt thẩm quyền dù đã được cảnh
báo, hoặc tiếp tục áp dụng khi đã có căn cứ cho thấy không phù hợp, cần xem xét
trách nhiệm cá nhân cụ thể.
Quan trọng nhất phải
tránh tình trạng "văn bản sai thì bãi bỏ, còn hậu quả để xã hội tự gánh chịu".
Một nền hành chính có trách nhiệm phải biết sửa sai và làm rõ nguyên nhân của
sai sót để bảo vệ công bằng cho những người đã chịu tác động từ sai sót đó...
(Theo
Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam)