Thôn, tổ dân phố là
không gian sinh hoạt cộng đồng, nơi người dân có quan hệ láng giềng, dòng họ,
nghề nghiệp, tín ngưỡng, phong tục, tập quán và ký ức văn hóa chung. Vì vậy, việc
sắp xếp cần tránh cách làm thuần túy cộng dồn số hộ cho đủ quy mô.

Chủ trương sắp xếp thôn,
tổ dân phố đang được triển khai rộng rãi nhằm tổ chức lại không gian quản
trị cơ sở, tinh gọn bộ máy và nâng cao hiệu quả quản lý. Đây là một quá trình
phức tạp, đòi hỏi sự thận trọng, dân chủ và phải đặt sự thuận tiện của người
dân lên hàng đầu. Phóng viên Báo Điện tử Tiếng nói Việt Nam đã phỏng vấn bà
Nguyễn Thị Việt Nga, Phó Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng về vấn
đề này.
Chủ trương đúng và cần
thiết, nhưng cách làm phải thận trọng, dân chủ
PV: Triển khai Nghị định
185 của Chính phủ về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và chế độ,
chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách, các địa phương trên
cả nước đang khẩn trương rà soát quy mô dân số, diện tích, xây dựng phương án sắp
xếp, sáp nhập. Theo bà, việc sáp nhập thôn, tổ dân phố có ý nghĩa ra sao trong
bối cảnh hiện nay?
Đại biểu Nguyễn Thị Việt
Nga: Tôi
cho rằng chủ trương sáp nhập thôn, tổ dân phố trong giai đoạn hiện nay là một
yêu cầu khách quan, xuất phát từ thực tiễn tổ chức lại không gian quản trị ở cơ
sở sau sắp xếp đơn vị hành chính và triển khai mô hình chính quyền địa phương
hai cấp. Khi đơn vị hành chính cấp xã được mở rộng về quy mô dân số, địa bàn,
khối lượng công việc và trách nhiệm quản lý nhà nước, thì tổ chức cộng đồng dân
cư ở tầng gần dân nhất cũng cần được rà soát, sắp xếp lại để bảo đảm tính tương
thích, tránh tình trạng bộ máy ở trên đã tinh gọn nhưng bên dưới vẫn phân tán,
manh mún, chồng chéo.
Thôn, tổ dân phố không
phải là một cấp chính quyền, nhưng lại là “cánh tay nối dài” rất quan trọng
trong việc nắm bắt đời sống nhân dân, vận động nhân dân, triển khai chủ trương,
chính sách và phản ánh những vấn đề phát sinh từ cơ sở. Nếu quy mô thôn, tổ dân
phố quá nhỏ, số lượng quá nhiều, thì bộ máy không chuyên trách sẽ cồng kềnh,
nguồn lực bị dàn trải, công tác chỉ đạo, điều hành của cấp xã gặp nhiều khó
khăn. Ngược lại, nếu sắp xếp hợp lý, chúng ta có thể giảm đầu mối, nâng cao hiệu
quả quản lý, phát huy tốt hơn vai trò tự quản của cộng đồng dân cư.
Tuy nhiên, cần nhìn nhận
sáp nhập thôn, tổ dân phố không chỉ là phép tính cơ học về số hộ dân hay số đầu
mối giảm được. Đây là quá trình tổ chức lại cộng đồng dân cư, có tác động trực
tiếp đến đời sống, tâm lý, tập quán sinh hoạt, quan hệ xã hội và bản sắc văn
hóa ở cơ sở. Vì vậy, chủ trương này là đúng và cần thiết, nhưng cách làm phải rất
thận trọng, dân chủ, có lộ trình, có giải thích, có đối thoại và có phương án xử
lý hài hòa các vấn đề phát sinh.
Điều quan trọng nhất là
sau sáp nhập, người dân phải thấy việc quản lý thuận tiện hơn, việc tiếp cận
thông tin, dịch vụ công và hoạt động cộng đồng không bị xa hơn, khó hơn. Nếu đạt
được điều đó, sáp nhập thôn, tổ dân phố sẽ không chỉ là tinh gọn bộ máy, mà còn
là bước chuyển quan trọng để nâng cao chất lượng quản trị cơ sở trong giai đoạn
mới.
Cần tính đến yếu tố lịch
sử hình thành, mức độ gắn bó cộng đồng
PV: Mỗi thôn, tổ dân
phố không chỉ đơn thuẩn là tổ chức tự quản mà còn là không gian sinh hoạt cộng
đồng, có tín ngưỡng, phong tục tập quán khác nhau… Quá trình sáp nhập cần thực
hiện thế nào để bảo đảm tính tương đối đồng nhất của cộng đồng dân cư, đồng thời
hiệu quả trong quá trình hoạt động?
Đại biểu Nguyễn Thị Việt
Nga: Theo
tôi, khi sáp nhập thôn, tổ dân phố, yếu tố đầu tiên cần quan tâm là tính tương
đồng và sự gắn kết tự nhiên của cộng đồng dân cư. Thôn, tổ dân phố không đơn
thuần là một tổ chức tự quản, đó còn là không gian sinh hoạt cộng đồng, nơi người
dân có quan hệ láng giềng, dòng họ, nghề nghiệp, tín ngưỡng, phong tục, tập
quán và ký ức văn hóa chung. Vì vậy, việc sáp nhập cần tránh cách làm thuần túy
cộng dồn số hộ cho đủ quy mô, mà phải tính đến yếu tố lịch sử hình thành, địa
giới tự nhiên, hạ tầng giao thông, khoảng cách đi lại, đặc điểm dân cư và mức độ
gắn bó cộng đồng.
Yếu tố thứ hai là điều
kiện quản lý và phục vụ người dân sau sáp nhập. Một thôn, tổ dân phố có quy mô
lớn hơn sẽ giúp giảm đầu mối, nhưng cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc nắm
địa bàn, quản lý dân cư, vận động nhân dân và xử lý các vấn đề phát sinh. Nếu địa
bàn quá rộng, dân cư phân tán, giao thông khó khăn, hoặc có sự khác biệt lớn về
điều kiện kinh tế - xã hội, thì việc sáp nhập có thể làm tăng khoảng cách giữa
người dân với người đại diện ở cơ sở. Do đó, cần đánh giá kỹ năng lực bao quát
địa bàn, điều kiện hạ tầng, phương thức thông tin liên lạc và khả năng hỗ trợ của
chính quyền cấp xã.
Yếu tố thứ ba là sự đồng
thuận của nhân dân. Đây là điều kiện có tính quyết định. Sáp nhập thôn, tổ dân
phố liên quan trực tiếp đến tên gọi, truyền thống, sinh hoạt cộng đồng, vị trí
nhà văn hóa, nơi hội họp, các thiết chế văn hóa cơ sở và cả tâm lý gắn bó của
người dân với địa danh quen thuộc. Vì vậy, phải công khai phương án, lấy ý kiến
nhân dân thực chất, giải thích rõ lợi ích, lắng nghe băn khoăn và điều chỉnh những
điểm chưa hợp lý.
Cuối cùng, cần quan tâm
đến việc bố trí đội ngũ sau sáp nhập. Người dân có thể đồng thuận với chủ
trương, nhưng sẽ rất quan tâm ai là người đại diện cho cộng đồng mới, có công
tâm không, có gần dân không, có đủ năng lực điều hành không. Do đó, sáp nhập địa
bàn phải đi đôi với lựa chọn đúng con người. Nếu làm tốt cả hai khâu này, mô
hình mới sẽ vận hành ổn định, hiệu quả và tạo được niềm tin từ cơ sở.
PV: Bà có đề xuất thêm giải
pháp gì để thôn, tổ dân phố theo mô hình mới hoạt động có hiệu quả trong thời
gian tới?
Đại biểu Nguyễn Thị Việt
Nga: Để
thôn, tổ dân phố sau sáp nhập hoạt động hiệu quả, theo tôi cần thực hiện đồng bộ
một số nhóm giải pháp. Trước hết, phải xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, phạm vi
trách nhiệm của thôn, tổ dân phố trong mô hình mới. Đây không phải là cấp chính
quyền, nên không thể hành chính hóa hoạt động của thôn, tổ dân phố; nhưng cũng
không thể coi nhẹ vai trò của thiết chế tự quản cộng đồng. Cần phân định rõ việc
nào thuộc trách nhiệm quản lý nhà nước của chính quyền cấp xã, việc nào là vận
động, tự quản, hòa giải, nắm tình hình, phản ánh kiến nghị của cộng đồng dân
cư. Làm rõ ranh giới này sẽ tránh tình trạng “đẩy việc” xuống thôn, tổ dân phố,
khiến đội ngũ không chuyên trách bị quá tải.
Thứ hai, cần quan tâm
đúng mức đến chế độ, chính sách và điều kiện làm việc của người hoạt động không
chuyên trách ở thôn, tổ dân phố. Sau sáp nhập, quy mô địa bàn lớn hơn, dân số
đông hơn, yêu cầu nhiệm vụ cao hơn, trong khi đây vẫn là đội ngũ làm việc ở tuyến
cuối, trực tiếp va chạm với rất nhiều vấn đề đời sống. Nếu chỉ tăng quy mô mà
không tính đến phụ cấp, bảo hiểm, tập huấn, phương tiện hỗ trợ, công cụ số và
cơ chế động viên phù hợp thì rất khó yêu cầu họ làm việc hiệu quả, chuyên nghiệp.
Thứ ba, cần đẩy mạnh
chuyển đổi số ở cộng đồng dân cư. Mỗi thôn, tổ dân phố nên có các kênh thông
tin chính thức, được quản trị chặt chẽ, phục vụ thông báo chủ trương, tiếp nhận
phản ánh, hỗ trợ người dân thực hiện dịch vụ công trực tuyến. Cùng với đó, cần
tập huấn kỹ năng số cơ bản cho Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố, Ban Công tác
Mặt trận và các tổ chức đoàn thể ở cơ sở.
Thứ tư, phải phát huy
dân chủ cơ sở. Mọi vấn đề liên quan trực tiếp đến cộng đồng dân cư, nhất là sau
sáp nhập, cần được công khai, bàn bạc, lấy ý kiến và giám sát. Khi người dân được
tham gia, được biết, được bàn, được kiểm tra, thì sự đồng thuận sẽ bền vững hơn
nhiều so với cách làm hành chính một chiều.
Cuối cùng, tôi cho rằng
chính quyền cấp xã cần có cơ chế theo dõi, hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn thường
xuyên trong giai đoạn đầu sau sáp nhập. Đây là giai đoạn dễ phát sinh vướng mắc
về địa bàn, nhân sự, sinh hoạt cộng đồng, thiết chế văn hóa, tên gọi, hồ sơ quản
lý dân cư. Nếu cấp xã đồng hành sát sao, lắng nghe và xử lý kịp thời, thôn, tổ
dân phố theo mô hình mới sẽ sớm đi vào ổn định, phát huy vai trò là nền tảng
quan trọng của quản trị cơ sở và của khối đại đoàn kết toàn.
PV: Xin trân trọng cảm ơn Đại
biểu !
(Theo
Báo Điện tử Tiếng nói Việt Nam)