Liên hệ
qua lời nói - “chìa khóa mở cửa”
Giữ mối liên
hệ chặt chẽ với Nhân dân không chỉ là tiêu chuẩn đại biểu dân cử được luật định,
mà còn là cam kết của mỗi đại biểu trước cử tri. Nhưng giữa “hứa” và “làm được”
là cả một hành trình rèn luyện. Trong đó, kỹ năng nói - tưởng chừng đơn giản -
lại chính là “chìa khóa mở cửa” để đại biểu bước vào lòng dân. Nói thế nào để
dân hiểu, dân tin, và sẵn sàng chia sẻ - đó không chỉ là năng khiếu, mà là một
kỹ năng cần được rèn giũa bằng bản lĩnh và trách nhiệm.
Đại biểu
dân cử nói ở đâu?
“Lời nói chẳng
mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau” - với đại biểu dân cử, nhất là
đại biểu HĐND cấp xã trong bối cảnh vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp,
đó không chỉ là phép ứng xử, mà là một yêu cầu nghề nghiệp đòi hỏi phải chuyên
nghiệp hóa, số hóa cho phù hợp, nhất là khi quy mô địa giới hành chính và dân số
cấp xã tăng lên. Bởi hoạt động của đại biểu gắn với nhiều diễn đàn khác nhau, mỗi
nơi lại đòi hỏi cách nói, nội dung và mức độ thể hiện khác nhau.
Với đại biểu
tái cử, không gian trình bày đã quá quen thuộc nhưng với những đại biểu lần đầu
tham gia hoạt động của Quốc hội và HĐND sẽ hoàn toàn bỡ ngỡ, mặc dù đã được tìm
hiểu khá kỹ khi tiếp xúc cử tri vận động bầu cử. Thực tiễn cho thấy, đại biểu
HĐND phải thường xuyên trình bày ở các “không gian” rất cụ thể: Tiếp xúc cử tri
trước và sau kỳ họp; thảo luận, chất vấn tại kỳ họp; thảo luận tổ; tham gia các
đoàn giám sát; làm việc với cơ quan, đơn vị, trao đổi với cử tri và Nhân dân
qua các sự việc cụ thể… Mỗi diễn đàn có mục đích riêng, nên không thể “một cách
nói cho tất cả”.
Một trong những
không gian nói quan trọng bậc nhất thể hiện sợi dây gắn kết với cử tri được
pháp luật quy định rõ ràng là tiếp xúc cư tri. Tiếp xúc cử tri trước kỳ họp được
xác định là dịp để đại biểu thông tin tới cử tri về dự kiến chương trình kỳ họp,
tình hình kinh tế - xã hội, kết quả giải quyết kiến nghị; đồng thời, quan trọng
nhất là lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân và báo cáo kết quả hoạt động
của Đoàn, của Tổ và của từng đại biểu. Ngược lại, TIẾP XÚC CỬ TRI sau kỳ họp lại
tập trung vào việc báo cáo kết quả kỳ họp, thông tin các nghị quyết đã được ban
hành, giải thích để cử tri hiểu, đồng thuận và cùng tổ chức thực hiện. Nếu
không phân định rõ từng bối cảnh, nội dung truyền đạt rất dễ rơi vào tình trạng
“lệch nhịp”, dàn trải, thiếu trọng tâm.
Trong các diễn
đàn tiếp xúc cử tri, vai trò của Đoàn ĐBQH và Tổ đại biểu HĐND hết sức quan trọng.
Trưởng đoàn ĐBQH và Tổ trưởng Tổ đại biểu HĐND chịu trách nhiệm tổ chức, điều
hành hoạt động tiếp xúc cử tri, bảo đảm đúng mục đích, yêu cầu và chất lượng.
Khi giữ vai trò chủ trì, đại biểu không chỉ điều phối chương trình, gợi mở vấn
đề mà còn phải định hướng nội dung trao đổi sát với từng thời điểm trước hay
sau kỳ họp, tránh trùng lặp, hình thức. Đối với các đại biểu là thành viên của
Đoàn và Tổ, khi được phân công tham gia TIẾP XÚC CỬ TRI, cần thực hiện nghiêm
túc trách nhiệm báo cáo theo lĩnh vực, nội dung được giao; chuẩn bị kỹ lưỡng
thông tin, số liệu, nhất là các vấn đề cử tri quan tâm. Việc báo cáo phải thể
hiện rõ quan điểm, trách nhiệm của đại biểu trước cử tri, góp phần làm rõ những
nội dung cần trao đổi, tạo sự thống nhất và đồng thuận.
Một hoạt động
nữa của đại biểu dân cử chính là thảo luận và chất vấn tại nghị trường và tại
các phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Thường trực HĐND. Phát biểu
thảo luận tại hội trường khác với thảo luận tổ; chất vấn lại càng khác với phát
biểu góp ý. Bên cạnh đó, đại biểu dân cử còn phải nói khi tham gia giám sát hoặc
làm việc với cơ quan, đơn vị được giám sát, cách nói cần cụ thể, đi thẳng vào vấn
đề, có dẫn chứng và căn cứ rõ ràng. Vì vậy, muốn nói hiệu quả, đại biểu phải
luôn tự đặt câu hỏi: mình đang nói ở đâu, nói để làm gì và nói cho ai nghe.
“Chìa
khóa” là bản lĩnh và trách nhiệm
Muốn nói thuyết
phục, trước hết đại biểu phải “nói đúng” - đúng quy định, đúng vai trò, đúng
người, đúng diễn đàn, đúng mục đích. Nhưng để “nói trúng”, nhất là ở cấp xã –
nơi khoảng cách giữa đại biểu và cử tri rất gần - thì yếu tố quyết định lại nằm
ở sự am hiểu thực tiễn và trách nhiệm với từng lời nói và bản lĩnh của đại biểu.
Nhiều đại biểu chia sẻ, kỹ năng chủ yếu do rèn luyện: chuẩn bị đề cương, chọn
ý, tập cách diễn đạt ngắn gọn, dễ hiểu; với người chưa quen thì bám đề cương để
tránh lan man, còn khi đã vững thì phải linh hoạt, biết lúc nào cần lập luận,
lúc nào cần dẫn chứng cụ thể. Ở cơ sở, cử tri nghe là biết mình có “nói thật”
hay không. Họ không cần cao siêu, chỉ cần đúng cái họ đang vướng. Ví dụ, đi tiếp
xúc cử tri trước kỳ họp, đại biểu chỉ chọn mấy nội dung người dân quan tâm nhất
cử tri kiến nghị qua các kỳ họp trước, UBND đã có báo cáo cụ thể kết quả giải
quyết, như đường giao thông, nước sinh hoạt, chế độ chính sách… nói ngắn gọn
thôi rồi dành thời gian để dân phát biểu. Còn sau kỳ họp thì phải nói rõ nghị
quyết liên quan trực tiếp đến họ, như hỗ trợ sản xuất hay thu phí, lệ phí… nếu
không giải thích kỹ là dân thắc mắc ngay. Muốn sâu thì phải bám văn bản, quy định,
chỗ nào chưa rõ thì tham vấn ý kiến cơ quan chuyên môn, đi khảo sát thực tế để
có nội dung nói hoàn chỉnh, thuyết phục.
Người đại biểu
không chỉ “nói trúng”mà còn cần biết “lựa” cho phù hợp từng đối tượng. Ví dụ
như cùng một nội dung nhưng nói với bà con làm nông thì phải cụ thể, dễ hiểu,
liên quan lĩnh vực nông nghiệp nông thôn; nói với giáo viên hay cán bộ thì phải
có căn cứ, số liệu, liên quan lĩnh vực giáo dục, đào tạo. Đi tiếp xúc cử tri ở
thôn xóm phải khác với phát biểu tại kỳ họp; còn chất vấn thì phải đi thẳng vào
vấn đề, hỏi ngắn nhưng rõ trách nhiệm, có dẫn chứng thì người bị chất vấn mới
trả lời đúng trọng tâm.
Không chỉ
cách nói, nội dung phát biểu cũng quyết định sức nặng. Một đại biểu cấp xã cũng
đã thẳng thắn chia sẻ: “Trước đây tôi hay nói theo cảm nhận, nhưng sau vài lần
bị góp ý là ‘nói chung chung’, tôi rút kinh nghiệm, trước khi phát biểu phải
xem lại báo cáo, hỏi thêm cán bộ chuyên môn, có số liệu thì nói mới chắc”. Từ
thực tế đó cho thấy, mỗi ý kiến muốn thuyết phục đều phải có căn cứ, được kiểm
chứng và gắn với tình hình cụ thể của địa phương./.
Nguồn:
Báo Đại biểu nhân dân