Trước yêu cầu ngày càng cao đối với hoạt động của các cơ
quan dân cử, việc không ngừng rèn luyện và nâng cao kỹ năng của đại biểu dân cử
là yếu tố quan trọng nhằm thực hiện tốt vai trò đại diện cho ý chí, nguyện vọng
của Nhân dân, đồng thời nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan
dân cử. Ban Biên tập trân trọng giới thiệu bài viết
“Nâng cao kỹ năng hoạt động của đại biểu dân cử” của TS. Bùi Ngọc Thanh -
nguyên Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội.
Đại biểu dân cử cần
rất nhiều kỹ năng để hoạt động đem lại hiệu quả cao. Đó là các kỹ năng tiếp nhận
và xử lý thông tin; trình bày một vấn đề; chất vấn một đối tượng; xây dựng một
văn bản; phân tích một dự án, một chính sách mới; giám sát việc thực hiện một đạo
luật, một nghị quyết...
1. Tiếp nhận và xử lý thông tin
Kho thông tin trong đầu, trong sổ sách
của mỗi người dày mỏng, đầy vơi khác nhau cũng thể hiện một đường nét về phương
pháp làm việc, về trình độ trí tuệ của người đó. Các nhà khoa học giỏi, các nhà
quản lý, lãnh đạo tài ba bao giờ cũng có kho thông tin đầy ắp, phong phú, đa dạng
và thường xuyên được cập nhật. Trong khoa học quản lý thì đây là một yêu cầu của
lãnh đạo các cấp; người có cấp bậc càng cao thì yêu cầu càng cao, là chính
khách thì yêu cầu này gần như cao tuyệt đối. Đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND
có địa vị pháp lý cao, phải rèn luyện, phấn đấu hết sức mình thì kỹ năng mới
thuần thục được.
Tiếp nhận thông tin có thể bằng nhiều
cách, đọc tài liệu, đọc sách, báo, nghe các chương trình của đài phát thanh,
xem các chương trình truyền hình, nghe truyền đạt, nghe thảo luận trong các cuộc
hội họp, nghe nói chuyện, tìm kiếm trên các trang mạng, đặc biệt là kinh nghiệm
làm việc trong quá trình hoạt động của mỗi người...
Thực tế chỉ ra rằng, người có chức vụ
càng cao càng phải tiếp nhận thông tin nhanh chóng, nhạy bén và sàng lọc giỏi.
Phải có phương pháp đọc để đọc nhanh khi ít thời gian, thâu tóm thông tin chính
xác; phải có phương pháp nghe và tinh ý khi nghe, để loại bỏ những thông tin vu
vơ. Trong mỗi kỳ họp, đại biểu được cung cấp khá nhiều tài liệu chính thức
(chưa kể tài liệu tham khảo). Nếu không có phương pháp đọc sẽ không nắm được cốt
lõi của văn bản. Có thể xem qua bố cục, mục lớn; rồi xem kỹ những vấn đề mình quan
tâm nhất, trọng tâm nhất.

Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQVN tổ chức tập huấn kỹ năng
vận động bầu cử cho người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI
Phải luyện tập để có đầu óc phân tích,
tổng hợp thông tin theo chuyên đề, theo lĩnh vực. Phải suy nghĩ mối liên hệ,
liên kết giữa thông tin này với thông tin khác; thông tin nào là nguyên nhân,
thông tin nào là kết quả và ngược lại. Một khi đại biểu đã có phương pháp tiếp
nhận thông tin, phân tích, tổng hợp, tìm thấy mối liên hệ của các thông tin, chắc
chắn hoạt động của đại biểu sẽ ngày càng có hiệu quả và uy tín của đại biểu được
nâng lên.
2. Kỹ năng xây dựng văn bản
Qua theo dõi nhiều phiên họp Quốc hội
và HĐND cấp tỉnh cho thấy, hầu hết các đại biểu đều sử dụng đủ thời lượng cho
phép trong một lần phát biểu. Từ đó các đại biểu nên cân nhắc “tuân thủ” một số
vấn đề như là “nguyên tắc”: Tuân thủ nghiêm ngặt thời gian được phép sử dụng để
chuẩn bị bài viết vừa vặn với thời gian đó, không nên viết quá dài dẫn đến nói
quá thời gian. Nói dài mà bị ngắt sẽ gây ra cảm giác dang dở, sức lan toả bị hạn
chế. Chỉ nên lựa chọn một hoặc hai vấn đề phù hợp với thời lượng cho phép, đó
là những vấn đề mình nắm chắc thông tin (lý luận và thực tiễn) và cảm thấy tâm
đắc nhất, có đóng góp thiết thực nhất (chắc chắn sẽ được nhiều người quan tâm
hơn).
Tiếp đó, chọn lọc những chi tiết thông
tin “đắt giá” nhất cho mỗi vấn đề để diễn đạt trong bài viết, bài nói. Sử dụng
những ngôn từ đặc trưng nhất để lột tả sự việc một cách hợp lý, chính xác nhất.
Các kiến nghị, các giải pháp nhất thiết phải “ăn nhập”, logic với tình hình (hết
sức tránh tình hình một đằng, kiến nghị một nẻo). Xem lại và tự trình bày vài lần,
suy nghĩ xem bản thân mình nghe có “lọt tai” không; sửa chữa tới mức mình ưng ý
nhất trước khi trình bày.
Nếu chuẩn bị đã chu đáo và nhuần nhuyễn
rồi thì nên trình bày, diễn đạt bằng “ngôn ngữ nói” sẽ có tính thuyết phục cao
hơn. Kết quả nghiên cứu của các nhà tâm lý học quản lý cho biết, một đề tài
hay, nếu được trình bày bằng miệng (ngôn ngữ nói, ngữ điệu cộng với dáng dấp tự
tin của người trình bày), người nghe có thể tiếp thu được từ 70% đến 85% nội
dung; còn cầm giấy đọc đều đều thì người nghe chỉ nắm bắt nhiều nhất được khoảng
30%.
3. Kỹ năng đặt câu hỏi
Theo dõi một số phiên chất vấn của Quốc
hội cho thấy, các đại biểu thường đưa ra hai loại câu hỏi, câu hỏi “mở” và câu
hỏi “khóa”. Về câu hỏi “mở” là loại câu hỏi có nhiều nội dung, có phạm vi rộng;
người bị chất vấn thường chỉ chọn một điểm nào đó nắm chắc hơn để trả lời trong
thời lượng 3 phút. Các đại biểu có kinh nghiệm thường đưa ra câu hỏi “khóa”, chỉ
chất vấn một nội dung; người bị chất vấn buộc phải trả lời đúng vấn đề, không
thể “né tránh” được.
Cùng một nội dung chất vấn, nhưng cách
đặt câu hỏi khác nhau sẽ có cách trả lời khác nhau. Do đó, đại biểu phải đặt
câu chất vấn sao cho chỉ duy nhất có một cách trả lời đúng nội dung câu hỏi.
4. Kỹ năng nói, trình bày
Kỹ năng này có thể áp dụng nhiều khi
tiếp xúc cử tri. Việc chuẩn bị bài nói, bài viết (đề cương) có thể vận dụng kỹ
năng xây dựng văn bản với thời lượng và nội dung rộng hơn, chỉ xin nói thêm một
vài chi tiết về phương pháp trình bày.
Trước hết, khác với Đại hội, Lễ kỷ niệm...
là Báo cáo chính trị hay Diễn văn phải được đọc nguyên văn, nghiêm túc; còn đã
là gặp gỡ tiếp xúc, trao đổi qua lại hay phát biểu thì chủ yếu là trình bày miệng.
Người xưa đã tổng kết rằng, khi trao đổi, luận đàm thì chỉ có từ đầu óc suy
nghĩ đến lời nói thoát ra cửa miệng, mới biết được mức độ trí tuệ, khẩu khí của
mỗi người.
Đã nói, thuyết trình thì ắt phải có
người nghe, bởi thế âm lượng, tốc độ, ngữ điệu... phải hợp lý. Diễn đạt phải
khúc chiết, mạch lạc. Đặc biệt là ngôn từ dù là ngôn ngữ “bác học” hay ngôn ngữ
“dân dã” cũng phải bảo đảm độ chuẩn xác của nội dung. Riêng về nội dung và ngôn
từ được trình bày có thể có ba phương pháp thể hiện.
Một là, trình bày theo phương pháp
ngôn từ “bác học”. Tất cả mọi vấn đề, mọi chi tiết đều được diễn đạt bằng các
luận cứ và ngôn ngữ khoa học. Ưu điểm của phương pháp này là mọi sự kiện, mọi
hiện tượng đều có khả năng lý giải đến tận cùng. Nhưng có nhược điểm là, không
phải ai cũng hiểu được các vấn đề khoa học, nhất là cử tri vùng sâu, vùng xa.
Hai là, diễn đạt bằng phương pháp
“dân dã”. Một vấn đề nào đó có thể dẫn ra một vài việc thực tế bằng ngôn ngữ
thông thường là người nghe có thể hiểu được. Ưu điểm của phương pháp này là, hầu
như ai cũng nắm được vấn đề; nhưng có nhược điểm là không thể cắt nghĩa được cặn
kẽ, đến tận cùng những vấn đề mang tính khoa học.
Ba là, phương pháp kết hợp từ ưu
điểm, nhược điểm của hai phương pháp trên. Tùy theo đối tượng người nghe (nông
dân, công nhân lao động, nhà quản lý, bộ đội, nhà khoa học...) mà có vấn đề giải
trình bằng luận cứ khoa học, bằng ngôn ngữ bác học, có vấn đề được dẫn chứng bằng
những ví dụ thực tiễn với ngôn ngữ thông thường. Cấp độ, liều lượng kết hợp tùy
thuộc cơ cấu người nghe, tùy thuộc nội dung được trình bày và tùy thuộc khả
năng tri thức, mức độ nắm bắt thực tiễn cũng như sự nhạy cảm của người trình
bày trước công chúng. Hiện nay phương pháp kết hợp này được sử dụng rộng rãi ở
các kỳ họp Quốc hội, HĐND, kể cả ở các phiên họp toàn thể thảo luận tại hội trường...
Nguồn: Báo ĐBND