Chiều ngày 26/10/2026,
tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội tiếp tục thảo luận tại tổ về các dự án: Luật An ninh
dữ liệu; Luật Định danh và xác thực điện tử; Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa
đổi). Đoàn đại biểu Quốc hội Hải Phòng thảo luận tại tổ 3 cùng đoàn Hà Tĩnh, Lạng
Sơn. Các đại biểu Quốc hội Hải Phòng tích cực nghiên cứu, tham gia nhiều ý kiến
xác đáng vào dự thảo Luật.

Về dự án Luật Xử lý vi
phạm hành chính (sửa đổi) đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga, Phó Trưởng Đoàn đại biểu
Quốc hội Hải Phòng đề nghị quan tâm làm rõ cơ chế xử lý đối với người
đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy cố ý không chấp hành quyết định áp dụng
biện pháp giám sát điện tử. Đây là vấn đề cần được xem xét đồng thời trên hai
phương diện: bảo đảm hiệu lực của quyết định quản lý và bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của người bị áp dụng.
Quyết định đã được ban
hành đúng pháp luật thì phải có cơ chế bảo đảm thực hiện. Tuy nhiên, việc lựa
chọn biện pháp xử lý khi không chấp hành phải căn cứ vào hành vi, lỗi, tính chất
và mức độ vi phạm; không thể chỉ dựa vào việc người đó từng nghiện ma túy hoặc
đang thuộc diện quản lý sau cai nghiện. Theo đại biểu, cần đánh giá đầy đủ hiệu
quả của cơ chế xử lý hiện có và khả năng bảo đảm tiếp tục thi hành quyết định
giám sát điện tử. Cần phân biệt rõ hai yêu cầu: xử lý hành vi vi phạm đã xảy ra
và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đang có hiệu lực; xác định chính xác hành vi cố ý
không chấp hành, phân biệt với sự cố kỹ thuật và trở ngại khách quan.
Đại biểu Nguyễn Thị Việt
Nga cũng đề nghị phân biệt ba vấn đề: không chấp hành giám sát điện tử,
tái sử dụng trái phép chất ma túy và tình trạng nghiện ma túy. Không thể chỉ từ
hành vi không chấp hành giám sát điện tử mà suy ra người đó đã tái sử dụng hoặc
tái nghiện. Từng vấn đề phải được xác định bằng căn cứ và trình tự tương ứng. Cách
tiếp cận này vừa bảo đảm xử lý đúng người có hành vi cố ý vi phạm, vừa tránh
làm phát sinh trách nhiệm bất lợi cho người gặp sự cố ngoài khả năng kiểm soát.
Đồng thời, đây cũng là cơ sở để cán bộ thực thi có thể giải thích và chịu trách
nhiệm về quyết định của mình.

Đại biểu Nguyễn Ngọc
Sơn (Hải Phòng) đề nghị cần lượng hóa căn cứ nâng thời hiệu, mức phạt và bảo đảm
tính thống nhất giữa các luật (khoản 1 Điều 6, khoản 1 Điều 24, điểm m khoản 1
Điều 25). Thẩm quyền và biện pháp hạn chế quyền công dân phải được quy định đủ
rõ trong luật (Điều 39; khoản 3 Điều 106; Điều 107). Đồng thời, phải kiểm soát
chặt các biện pháp cưỡng chế mới (điểm d, e, g, h khoản 2 Điều 74; Điều 75). Thủ
tục xử phạt và chứng cứ điện tử phải bảo đảm quyền giải trình, quyền phản bác
chứng cứ (điểm d khoản 1 Điều 44; Điều 48; Điều 50). Việc xử lý vi phạm trên
môi trường điện tử phải là quy trình thống nhất, không chỉ số hóa giấy tờ (Điều
19; khoản 4 Điều 47; khoản 5 Điều 51, Điều 52). Cùng với đó, cần kiểm soát cơ
chế tài chính xử phạt và làm rõ trách nhiệm khắc phục hậu quả (Điều 29; Điều
71).
Đại biểu Nguyễn Ngọc
Sơn cũng đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục đối chiếu toàn diện dự thảo Luật với
dự thảo Nghị định hướng dẫn. Những vấn đề về giới hạn quyền lực, điều kiện áp dụng
biện pháp hạn chế quyền và bảo đảm quyền giải trình phải được giải quyết ngay
trong Luật; nghị định chỉ quy định kỹ thuật thực hiện trong phạm vi được giao.
Có như vậy, Luật mới vừa bảo đảm kỷ cương, vừa kiểm soát quyền lực và tạo môi
trường pháp lý công bằng, minh bạch cho người dân, doanh nghiệp.
Đại biểu Hoàng Văn
Tuyên (Hải Phòng) tán thành việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong xử lý vi phạm
hành chính, giúp người dân giảm thời gian, chi phí đi lại. Dự thảo đã quy định
điều kiện triển khai và cho phép gửi quyết định xử phạt bằng nhiều phương thức.
Khi hướng dẫn thực hiện, đề nghị quan tâm đến người dân ở những nơi kết nối
chưa thuận lợi hoặc chưa quen sử dụng dịch vụ trực tuyến, nhất là tại vùng đồng
bào dân tộc thiểu số và miền núi. Đồng thời đề nghị tạo thuận lợi cho người dân
nộp tiền phạt tại địa bàn đi lại khó khăn. Về điều kiện bảo đảm thi hành Luật ở
cấp xã, nhất là tại địa bàn khó khăn (Điều 17 và Điều 71), đề nghị khi xây dựng
kế hoạch triển khai, quan tâm rà soát nhu cầu thực tế của các xã vùng đồng bào
dân tộc thiểu số và miền núi, nhất là những nơi địa hình phức tạp, việc đi lại
khó khăn.
Đại biểu ghi nhận khoản
13 đã cho phép giao lại một số tang vật, phương tiện để bảo quản, trong đó có
tài sản cồng kềnh, khó vận chuyển, cần điều kiện bảo quản đặc thù và một số
phương tiện giao thông. Trên cơ sở đó, đề nghị cân nhắc mở rộng đối với hàng
hóa không thuộc loại cấm, khi việc giao lại không ảnh hưởng đến xác minh, ngăn
chặn vi phạm hoặc bảo đảm thi hành quyết định. Có thể cân nhắc bảo lãnh ngân
hàng hoặc ký quỹ phù hợp, kèm yêu cầu bảo toàn hiện trạng và sự giám sát của cơ
quan có thẩm quyền.

Đại biểu Vũ Văn Tiến (Hải
Phòng) cho rằng, muốn đất nước phát triển, xã hội có kỷ cương thì pháp luật phải
được thượng tôn, mọi hành vi vi phạm đều phải được xử lý công bằng, nghiêm
minh. Nhưng theo đại biểu, điều đáng suy nghĩ là xử phạt thế nào để người dân
thấy thấu tình, đạt lý; người vi phạm phải chịu trách nhiệm nhưng vẫn có cơ hội
khắc phục, sửa sai; người không có lỗi không bị vạ lây; làm sao để Nhà nước giữ
được kỷ cương, pháp luật được thực thi nghiêm túc mà người dân vẫn yên tâm làm
ăn, sinh sống.
Về biện pháp cưỡng chế
ngừng cung cấp điện, nước, Internet, đại biểu đề nghị tiếp tục đánh giá tác động,
làm rõ ngay trong Luật trách nhiệm xác minh hạ tầng dùng chung, trường hợp
cần loại trừ và cơ chế khắc phục, bồi thường khi áp dụng không đúng. Pháp luật
phải rõ ràng, cụ thể để biện pháp cưỡng chế đủ sức ngăn chặn vi phạm, nhưng
không vô tình đẩy khó khăn sang những người vốn đã phải chật vật mưu sinh. Về
việc nâng mức phạt tiền tối đa, dự thảo đề xuất nâng mức trần phạt tiền cao nhất
trong xử lý vi phạm hành chính từ 1 tỷ lên 1,5 tỷ đồng đối với cá nhân, từ
2 tỷ lên 3 tỷ đồng đối với tổ chức, tức tăng 50% so với quy định hiện
hành.
Đại biểu cho rằng, với
những hành vi cố tình vi phạm, thu lợi bất chính, gây hậu quả nghiêm trọng thì
phải xử lý nghiêm, để người vi phạm không thể coi tiền phạt chỉ như “gãi ngứa”,
“muỗi đốt inox” được. Ngược lại, cũng cần nhìn vào thực tế rằng nhiều người
dân, hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ vẫn đang phải chắt chiu từng đồng để duy
trì sản xuất, trả lương, trang trải cuộc sống. Đại biểu cho biết, đây là
mức phạt tối đa, không phải mức phạt áp dụng cho mọi hành vi. Nhưng khi nâng trần
xử phạt, cũng cần tính đến khả năng thực hiện nghĩa vụ của từng nhóm đối
tượng.
Mức phạt thể hiện sự
nghiêm khắc, răn đe. Nhưng nếu người vi phạm không có khả năng thi hành, cơ sở
kinh doanh phải đóng cửa, người lao động mất việc, hậu quả chưa được khắc phục
thì liệu mục tiêu cuối cùng của xử phạt đã đạt được?
Với những trường hợp có
thể khắc phục, họ cần một con đường để sửa sai, thay vì chỉ nhìn thấy trước
mắt một gánh nặng vượt quá khả năng xoay xở. Kinh nghiệm ở một số nước cho
thấy, khi xác định tiền phạt, pháp luật có xem xét tính chất vi phạm, mức
độ lỗi và hoàn cảnh kinh tế; trường hợp phù hợp còn được tạo điều kiện thanh
toán, chú trọng biện pháp khắc phục hậu quả, đưa hoạt động trở lại đúng quy định.Ngoài
răn đe, không để tái phạm, cần thiết kế chế tài sao cho người vi phạm có trách
nhiệm sửa sai và pháp luật được thực thi hiệu quả.
Từ đó, đại biểu đề nghị
cần đánh giá kỹ hơn tác động của mức phạt tối đa tăng 50%, nhất là đối với hộ
kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ; làm rõ sự tương xứng giữa mức phạt, tính chất
vi phạm và khả năng thi hành. Đồng thời, cần tiếp tục rà soát điều kiện, thủ tục
hoãn, giảm, miễn và nộp tiền phạt nhiều lần đã được dự thảo quy định, để chính
sách thực sự đến được với người gặp khó khăn, có thiện chí chấp hành; nhưng tuyệt
đối không tạo kẽ hở cho người cố tình vi phạm./.
(Theo
Chuyên đề An ninh Hải Phòng)