Ngày 22/8, phát biểu ở
hội trường về nội dung cơ chế, chính sách đối với dự án xây dựng khu đô thị lấn
biển để tích hợp vào dự án Luật Phát triển đô thị, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn, Ủy
viên hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc
hội và đại biểu Vũ Văn Tiến, Ủy viên hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Văn hoá
- Xã hội của Quốc hội ủng hộ việc xây dựng cơ chế đặc thù để hình thành các cực
tăng trưởng mới từ kinh tế biển, khu đô thị lấn biển.

Đại biểu Nguyễn Ngọc
Sơn đánh giá khu đô thị lấn biển không đơn thuần là một dự án phát triển đô thị
mà là hoạt động tạo đảo nhân tạo, chuyển một phần không gian biển thành đất để
đầu tư, kinh doanh và tổ chức dân cư. Cơ chế càng đặc biệt, quy mô càng lớn thì
giới hạn thẩm quyền và cơ chế kiểm soát càng phải được quy định chặt ngay trong
luật.
Đại biểu Nguyễn Ngọc
Sơn nhấn mạnh cần đổi cách tiếp cận, không chỉ giải quyết bài toán làm thế nào
tạo thuận lợi cho nhà đầu tư, mà phải làm rõ trách nhiệm các bên và Nhà nước kiểm
soát thế nào trong suốt vòng đời của phần lãnh thổ mới tạo ra từ biển vì ưu đãi
càng mạnh, phân quyền càng sâu, rủi ro về sau càng lớn. Phát biểu tại hội trường,
đại biểu đã chỉ ra những bất cập cụ thể ở từng điều, khoản để sửa đổi theo đúng
tinh thần này. Trong đó, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn chỉ ra điều 18a đã bổ sung
yêu cầu đánh giá địa chất, thủy văn, hải văn, dòng chảy, bùn cát và hệ sinh
thái. Đây là điểm tích cực nhưng trách nhiệm của nhà đầu tư vẫn chỉ là nghĩa vụ
hành vi, không có công cụ tài chính nào bảo đảm thực hiện suốt 70 năm, trong
khi rủi ro xói lở, sụt lún, sự cố môi trường có thể phát sinh sau nhiều thập kỷ,
khi nhà đầu tư ban đầu đã chuyển nhượng một phần dự án.
Đại biểu đề nghị quy định
nguyên tắc ký quỹ phục hồi môi trường biển, nguồn duy tu chống xói lở và trách
nhiệm xử lý tài sản khi dự án kết thúc. Tương tự, điểm d khoản 1 yêu cầu kết nối
hạ tầng với đất liền nhưng không quy định rõ đối tượng chịu chi phí. Đại biểu đề
nghị xác định công trình kết nối là hạng mục bắt buộc của dự án, do nhà đầu tư
thực hiện. Điều 18a đã bổ sung yêu cầu đánh giá địa chất, thủy văn, hải văn,
dòng chảy, bùn cát và hệ sinh thái. Đây làđiểm tích cực nhưng trách nhiệm của
nhà đầu tư vẫn chỉ là nghĩa vụ hành vi, không có công cụ tài chính nào bảo đảm
thực hiện suốt 70 năm, trong khi rủi ro xói lở, sụt lún, sự cố môi trường có thể
phát sinh sau nhiều thập kỷ, khi nhà đầu tư ban đầu đã chuyển nhượng một phần dự
án. Đề nghị quy định nguyên tắc ký quỹ phục hồi môi trường biển, nguồn duy tu
chống xói lở và trách nhiệm xử lý tài sản khi dự án kết thúc. Tương tự, điểm d
khoản 1 yêu cầu kết nối hạ tầng với đất liền nhưng không quy định rõ đối tượng
chịu chi phí. Đề nghị xác định công trình kết nối là hạng mục bắt buộc của dự
án, do nhà đầu tư thực hiện.

Cùng quan tâm đến vấn đề
này, đại biểu Vũ Văn Tiến tán thành việc bổ sung Chương IV về cơ chế, chính
sách đặc thù xây dựng khu đô thị lấn biển để tích hợp vào dự án Luật Phát triển
đô thị. Đây là vấn đề mới, quy mô lớn, có thể mở ra không gian phát triển đáng
kể cho đất nước nhưng chính vì mới và yêu cầu quản lý lâu dài nên cách tiếp cận
pháp luật phải đủ thận trọng, có tầm nhìn dài hạn và có khả năng kiểm soát. Với
Việt Nam, một quốc gia có đường bờ biển dài nhưng nhiều đồng bằng ven biển hẹp,
việc tạo thêm quỹ đất và không gian đô thị mới có sức hấp dẫn lớn. Tờ trình của
Chính phủ cũng xác định lấn biển là một phương thức khai thác không gian biển,
gắn với yêu cầu hình thành đô thị biển hiện đại, xanh, thông minh, thích ứng với
biến đổi khí hậu và nước biển dâng.
Đại biểu đề nghị xây dựng
chiến lược và quy hoạch tổng thể về lấn biển ở phạm vi quốc gia. phải xác định
khu vực nào có thể lấn biển, khu vực nào cần bảo vệ nghiêm ngặt, quy mô tối đa ở
từng vùng và khả năng chịu tải của môi trường; không nên để hoạt động lấn biển
phát triển theo từng đề xuất riêng lẻ của nhà đầu tư rồi sau đó mới ghép lại
thành bức tranh tổng thể và phải có bức tranh tổng thể trước, dự án cụ thể phải
đặt trong bức tranh ấy. Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn lấn biển như một cách tạo thêm
đất thì sẽ chưa thấy hết bản chất vấn đề. Đây là sự can thiệp trực tiếp vào cấu
trúc tự nhiên của vùng bờ, vào địa hình, dòng chảy, quá trình bồi tụ - xói lở
và hệ sinh thái biển, ven biển. Một dự án nằm trong ranh giới một địa phương
nhưng tác động môi trường có thể vượt ra ngoài ranh giới đó.
Đại biểu Vũ Văn Tiến đề
nghị xây dựng chiến lược và quy hoạch tổng thể về lấn biển ở phạm vi quốc gia,
phải xác định khu vực nào có thể lấn biển, khu vực nào cần bảo vệ nghiêm ngặt,
quy mô tối đa ở từng vùng và khả năng chịu tải của môi trường. Cùng với đó, cần
xây dựng một hệ thống quản lý và cơ sở dữ liệu quốc gia về các dự án lấn biển
và cơ sở dữ liệu này không chỉ là nơi lưu hồ sơ hành chính mà phải trở một
thành công cụ quản trị hữu hiệu. Khi dữ liệu được cập nhật thống nhất, cơ quan
quản lý mới có thể theo dõi tác động cộng dồn giữa nhiều dự án, dự báo nguy cơ
đối với từng vùng bờ và điều chỉnh chính sách kịp thời. Vấn đề không chỉ là có
cho phép một dự án lấn biển hay không, mà là sau 10 năm, 20 năm, tổng thể đường
bờ, hệ sinh thái và không gian phát triển của cả vùng sẽ biến đổi như thế nào./.
(Theo
Báo điện tử Hải Phòng)